Skip to content
April 17, 2014 / khicongydaovn

Nhờ máy nhiệt kế và máy đo đường biết được dấu hiệu sớm bệnh liệt mặt và cách chữa đúng.

Máy nhiệt kế và máy đo đường biết được dấu hiệu liệt mặt và cách chữa đúng.

Bệnh nhân người ngoại quốc bước vào phòng mạch, tôi nhìn thấy một bên má phải giựt nhẹ, tôi đo áp huyết bên má giựt cao hơn tiêu chuẩn, áp huyết bên tay trái đúng tiêu chuẩn.Tôi hỏi bệnh nhân có uống thuốc trị bệnh áp huyết không, ông trả lời có. Tôi cho biết khi một người bị bệnh cao áp huyết thì thuốc chữa bệnh áp huyết đa số có kết quả chỉ cầm giữ cho áp huyết bên tay trái xuống bình thường, tây y không đo áp huyết bên tay phải bao giờ, còn thông thường khi dùng thuốc chữa áp huyết, thì áp huyết đo ở hai tay sẽ chênh lệch, bên phải sẽ thấp hơn hay cao hơn, lệ thuộc vào chức năng hoạt động của gan, khi gan thực làm cao áp huyết khiến thần kinh gân cơ căng, hoặc gan thiếu máu không cung cấp đủ máu nuôi dưỡng thần kinh gân cơ thì áp huyết thấp, sự hoạt động co bóp của gan, khi giận dử thì bầm gan tím ruột, khi sợ hãi thì mặt tái xanh, tầt cả do chức năng gan làm ra như cơn gió thổi tự nhiên mạnh hay tự nhiên yếu, đông y gọi cho nó một hình dung từ là can phong thay đổi như gió theo tính khí bất thường do 6 căn : mắt,tai, mũi, lưỡi, thân, ý, tiếp xúc với 6 trần là nhìn thấy người, cảnh vật, tai nghe âm thanh, mũi ngửi mùi, thân thể da thịt chạm xúc, ý suy nghĩ đánh giá tốt xấu, ưa ghét…. Chỉ một câu nói của một người mình không ưa, họ làm mình bực tức giận dữ, tự nhiên làm tăng áp huyết gây sung huyết não làm đứt mạch máu não, đều do chức năng gan thay đổi, những sự thay đổi này bên trong người gọi là can phong nội động, tiếng bình dân nôm na không hiểu ý này, gọi là trúng gió. Nên có một bác sĩ có người mẹ bị tai biến đem đến cho tôi chữa, khi còn ở VN, ông phải giải thích cặn kẽ là, mẹ tôi chỉ ở trong nhà, không ra gió, nên không phải trúng gió mà bị tai biến mạch máu não.

Trường hợp này dùng máy đo nhiệt kế đo hai bên má sẽ thấy hai bên khác nhau, bên bị bệnh má sẽ nóng hơn, nhưng có môt điểm thường ở huyệt Hạ Quản và Giáp Xa nhiệt kế chỉ Lo, đó là điểm làm mặt mắt giựt do máu không đến thần kinh mặt co rút tắc máu, chỉ cần châm nặn máu vào hai huyệt này là khỏi .

Trường hợp có bệnh cao áp huyết dùng thuốc cho áp huyết thấp dưới tiêu chuẩn, thì bên phải đa số cũng bị thấp hơn, khi ra gió hàn lạnh và không đủ nhiệt lượng và nồng đột đường trong máu làm thần kinh mặt co lại, trường hợp này là trúng gió thật gọi là ngoại phong hàn, nhưng chỉ những người có bệnh áp huyết thấp mới bị.

Ở Montreal, có một bác bệnh nhân kể cho tôi nghe nguyên nhân liệt mặt của bác, bác đi chợ mỗi ngày, đi bằng xe buýt lúc trời mùa đông giá tuyết, bác đang ngồi trong xe, cảm thấy tự nhiên lạnh,mặt bác co giựt, bác vẫn đi lại mua thức ăn bình thường, về đến nhà, vợ con mới hỏi, làm sao bố tự nhiên mắt xếch miệng méo thế kia vậy bố, bố soi gương coi, lúc đó ông mới biết.

Khi tôi đo nhiệt độ thì thần kinh điều khiển cơ mặt vẫn là huyệt Hạ Quan và Giáp Xa, nhưng đo nhiệt kế bên liệt đều thấp, ở hai huyệt đều Low châm nặn máu thử đường ở hai huyệt này 4.0mmol/l, so với nồng độ đường trong máu ở hai huyệt bên má không bị liệt nồng độ đường trong máu 6.0mmol/l.

Cả hai trường hợp trên, đều châm bằng kim tiểu đường rồi nặn máu, có khi máu không chảy ra, có khi nặn máu ở huyệt bệnh ra máu bầm, cần phải nặn cho ra máu đỏ và đo nồng độ đường hai bên bằng nhau thì mặt hết méo.

Cũng có một bệnh nhân là người Hoa, cựu giáo sư dạy đông y châm cứu tại một bệnh viện lớn bên Trung Quốc, bị liệt mặt thành tật đã 7 năm, dĩ nhiên ông củng đã tự chữa bằng châm cứu, uống thuốc cũng vẫn bị tật méo miệng liệt mặt vĩnh viễn. Khi ông sang Canada, đến Montreal, có người giới thiệu đến tôi, tôi cũng châm 2 huyệt trên nặn máu và đo đường, nhắc nhở ông dùng thêm chất ngọt, châm nặn máu 2 huyệt này và tập 7 bài đầu khí công để cho nồng độ đường trong máu lưu thông đều 2 bên má, giữ cho má bên bệnh được ấm nhiệt độ đều hai bên má, thì mặt trở lại bình thường, ông áp dụng theo khoảng 2 tuần, mặt trở lại bình thường, vì đồng nghiệp, tôi không lấy tiền, ông đem thanh bảo kiếm tặng cho tôi, tôi nhờ người đem tặng lại cho bảo tàng viện ở Thủ Đô Canada, cách nay 8 năm.

Một bà người Hoa di dân sang Canada bị liệt mặt méo miệng 40 năm, hỏi tôi có chữa được không, tôi bảo được, và phương pháp khám chữa cũng bằng 3 dụng cụ, đo áp huyết, nhiệt kế, đo đường, làm cho nồng độ đường trong máu tăng nhiệt hai bên má bằng nhau do tập 7 bài đầu khí công, uống thuốc bổ máu tăng áp huyết, ăn lượng đường cho đủ, bà ta đã khỏi bệnh.

Khám để ngừa bị méo miệng liệt mặt và những cách chữa.

Đo nhiệt kế hai bên má, bên sắp bị liệt thì nhiệt kế không chỉ, máy chỉ Lo. nhiệt độ thấp máy không bắt được, thì theo lý thuyết đông y, nơi nào có máu chạy thì cơ thể ấm, máu không chạy thì cơ thể chết, như xác chết có máu, nhưng máu không còn chạy toàn thân, còn đây là máu không chạy nơi cục bộ, còn má bên kia có nhiệt độ, chứng tỏ một bên má máu không lưu thông do co thắt thần kinh ngoại biên do áp huyết bên co thắt qúa cao, hay teo thần kinh ngoại biên do thiếu máu. Dấu hiệu biết trước khoảng vài tháng khi thấy môi, má hay mắt thỉnh thoảng co giật.

Nhờ nhiệt kế chúng ta phát hiện sớm được bệnh méo miệng liệt mặt.

Những cách chữa :

a-Chữa bằng cách châm nặn máu :

Nhờ lý thuyết này và đo nhiệt kế nơi nào không có độ cứ châm nặn máu ở nhiều điểm, khi châm nặn máu để thông khí, thì khi khí chạy đến đâu máu đi theo đến đó. Sau đó đo nhiệt kế lại 2 bên má sẽ thấy nơi nào cũng có độ bằng nhau.

Sau đó đo áp huyết hai tay, nếu bên nào cao áp huyết thì châm nặn máu 5 đầu ngón tay, ngón chân, bên nào áp huyết thấp, thì bấm kéo huyệt Ế Phong bên áp huyết thấp lên, giữ huyệt lâu 60 giây, rồi đo lại áp huyết thấy lọt vào tiêu chuẩn thì ngưng, và tập khí công.

Nếu mắt mở không nhắm mắt khép kín lại được, cũng đo nhiệt kết ở Ngư Yêu, Toản Trúc, rồi châm nặn máu, làm thông khí huyết. thông huyết ứ tắc, thư giãn thần kinh gân cơ, cũng sẽ nhắm mắt được, và về nhà cũng chườm muối rang lên 2 huyệt trên và tập mở mắt nhắm mắt.

Nếu áp huyết thấp, không đủ khí huyết lên nuôi đầu, mắt, tập 7 bài đầu khí công, Cúi Ngửa 4 Nhịp đưa máu lên nuôi đầu mặt, mắt.

b-Chữa bằng cách bấm huyệt :

Đứng trước gương, dùng hai ngón tay cái ấn đề vào hai huyệt Hạ Quan hai bên má, giữ nguyên, bệnh nhân tập ngáp 10 lần, khi ngáp, để ý miệng méo bên trái, thì ấn huyệt Hạ Quan bên phải cho đau, miệng sẽ trở lại bên phải, ngược lại, miệng méo bên phải, thì bấm huyệt Hạ Quan bên trái cho đau, làm cho bệnh nhân phải đưa miệng sang bên trái. Cứ bấm và bệnh nhân tiếp tục ngáp 10 lần để mình chỉnh dây thần kinh, giống như chỉnh tay lái của một chiếc xe.

c-Hướng dẫn bệnh nhân tự chữa :

Bệnh nhân ngáp 10 lần, nhai 10 lần, cười 10 lần để xem mình thấy còn méo bên nào, và bệnh nhân phải để ý, trong lúc tập, ngáp, nhai, cười, có cảm giác điểm nào còn cứng, sượng, đau để mình đo nhiệt kết châm nặn máu.

Dặn bệnh nhân về nhà, giã gừng rượu hay rang muối bọc trong vải dầy kaki, chườm lên má, vừa chườm vừa ngáp, nhai, cười, cho thần kinh hàm được thư giãn thông khí huyết.

d-Cách tự chữa ở nhà :

Tập bài Nạp Khí Trung Tiêu 5 lần rồi tập tiếp bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 100 lần làm thông đều khí huyết toàn thân.

Bệnh nhân đứng trước gương, tự dùng hai ngón tay trỏ ấn vào giao điểm của hai khớp hàm trên và hàm dưới mỗi bên má, vừa ấn đè vào hai huyệt đó, vừa tập há miệng lớn ngáp to 10 lần, rồi tập nhai 10 lần, tập cười to 10 lần. Để ý mỗi động tác như cười, nhai hay ngáp, còn méo bên nào, thí dụ còn méo bên trái, thì ấn vào huyệt bên phải cho đau hơn bên trái, thì miệng sẽ chạy về bên phải làm cho miệng cân bằng trở lại. Tập nhiều lần trong ngày, liên tiếp từ ngày này sang ngày khác, đến bao giờ buông tay ra không bấm huyệt, đứng ngáp trước gương, vòng miệng tròn đều là khỏi bệnh.

Mặc dù bệnh đã khỏi, nhưng muốn khỏi nhanh, cần phải giữ đúng cách ăn uống, và theo dõi bệnh bằng máy đo áp huyết, thấy áp huyết lên từ từ mỗi ngày lọt vào đúng tiêu chuẩn theo lứa tuổi là khỏi bệnh. Khi áp huyết xuống, lại tiếp tục uống thuốc bổ máu, để duy trì sức khỏe.

Cách chữa bệnh méo miệng liệt mặt đã lâu năm

( Từ mới liệt cho đến 40 năm vẫn chữa được)

Dùng súng đo nhiệt độ bên má liệt, tìm điểm nào nhiệt độ cao nhất, thực chứng, châm nặn máu, điểm nào độ thấp nhất hay máy chỉ Low là nơi đó không có máu đi qua làm tê mất cảm giác, hư chứng, châm nặn cho ra máu mới thông được thần kinh mặt.

Điều chỉnh cơ miệng có 2 đường kinh Vị và Đại Trường.

Hãy thử nghiệm trên người không bệnh để biêt công hiệu của huyệt và đường kinh như sau :

a-Day bấm mạnh cho đau đầu ngón tay trỏ trái, điểm cần bấm đau ở huyệt Thương Dương, sẽ thấy cơ miệng kéo về bên trái. Nếu day bấm đau huyệt Thương Dương đầu ngón tay trỏ bên phải, sẽ thấy cơ miệng kéo về bên phải.

b-Day bấm mạnh đầu ngón chân thứ hai, điểm bấm đau ở huyệt Lệ Đoài. Nếu bấm Lệ Đoài chân phải sẽ thấy cơ miệng kéo về bên phải. Bấm đau bên trái, sẽ thấy cơ miệng kéo về bên trái.

Sau khi kiểm chứng đúng, thì áp dụng trên bệnh nhân theo thứ tự sau :

c-Đo áp huyết xem liệt mặt là thực chứng hay hư chứng :

-Nếu thực chứng phải làm hạ áp huyết bên tay cao bằng cách châm nặn máu 5 đầu ngón tay, nặn máu nhiều ở huyệt Thương Dương và huyệt Lệ Đoài thuộc kinh Vị ở chân phía bên cao áp huyết.
-Nếu cao áp huyết cả hai tay, thì châm nặn máu cả hai bên, và ấn đè huyệt Khí Hải cho đến khi áp huyết xuống.

-Nếu hư chứng phải uống hay tiêm thuốc bổ máu B12, nhưng tạm thời tập bài Cúi Ngửa 4 Nhịp 20 lần, và bài Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực 30-50 lần để đưa máu lên đầu mặt.

d-Thông đường kinh bằng huyệt :

-Châm nặn máu bằng bút châm tiểu đường để châm nông, chứ không châm sâu sẽ phạm gân, các huyệt Nhân Trung, Hạ Quan, Quyền Liêu, Giáp Xa, Địa Thương, Thừa Tương. Trước khi châm, đo nhiệt kế tại mỗi huyệt thấy nhiệt độ khác nhau, sau khi châm nặn máu, đo lại nhiệt kế trên mỗi huyệt thấy nhiệt độ đều nhau.

-Day bấm Thương Dương và Lệ Đoài cùng bên cơ miệng bị liệt, cùng lúc bảo bệnh nhân cười và ngáp nhiều lần từ 10-50 lần trong lúc vẫn bấm giữ huyệt.

e-Dùng ngón tay cái vuốt 3 đường :

Đường thứ nhất :Từ Nhân Trung đến Giáp Xa, ấn vuốt từ từ tìm cảm giác dưới tay xem điểm nào vấp, sượng, cứng, hỏi bệnh nhân xác nhận có cảm giác nơi nào đau, tê, bì bì không cảm giác, nơi đó là A-thị-huyệt phải châm nặn cho ra máu.

Đường thứ hai từ Địa Thương đến Giáp Xa, tìm A-thị-huyệt châm nặn máu như trên.

Đường thứ ba từ Thừa Tương đến Giáp Xa, tìm A-thị-huyệt châm nặn máu như trên.

f-Cho bệnh nhân thông khí toàn thân bằng bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 100 lần, tùy theo áp huyết cao hay thấp :

-Nếu áp huyết cao thì kéo tốc độ bình thường để ý cho bụng mểm xẹp, làm hạ áp huyết.

-Còn áp huyết thấp không cần để ý bụng xẹp mà cần tốc độ nhanh, bơm máu lên mặt làm áp huyết tăng.
-Day Hà Đồ Lạc Thư trên mặt :

(Đánh vào khung google chữ Hà Đồ Lạc Thư| Khí công Y Đạo Đỗ Đức Ngọc) tìm bài Hà Đồ Lạc Thư trên mặt, có hướng dẫn cách chữa.

Vẫn để bệnh nhân nằm ngửa sẽ không nguy hiểm, để xem còn huyệt nào mất cảm giác, huyệt nào còn đau. Nếu day Hà Dồ Lạc Thư ở thế ngồi sẽ nguy hiểm, có khi thực làm thêm thực, hư làm thêm hư, có thể làm tăng áp huyết khi áp huyết đang cao, có thể làm tụt áp huyết khi áp huyết đang thấp.

Những giai đoạn chữa hướng dẫn trên áp dụng 1 tuần liên tục, sau đó bệnh nhân tự chữa bằng cách đứng trước gương, dùng 2 ngón tay cái ấn vào hai bên má, nơi huyệt Hạ Quan, hay chỗ lõm giao điểm khớp của hai xương hàm trên và xương hàm dưới, tập ngáp nhiều lần trước gương mỗi ngày, cho đến khi khớp hàm càng ngày càng mở to thì miệng cũng mở to tròn hết méo thì khỏi bệnh.

-Dùng thuốc thông khí huyết lên đầu mặt, thường dùng chữa bệnh liệt mặt méo miệng, tên là Đại Hoạt Lạc Đan có bán ở tiệm thuốc bắc.

Cách dùng :

-Áp huyết thấp, người lạnh, dùng 4 viên sáng, 4 viên tối, lúc mới uống khi thuốc chuyển thì thần kinh mặt, má, hơi bị giựt để thông những nơi còn tắc nghẹt, khi thần kinh mặt thông sẽ hết giựt.
-Áp huyết còn cao, uống mỗi ngày 1-2 viên hơi làm tăng áp huyết, phải tập 2 bài Lễ Phật Trì Danh 15 phút và bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 100 lần.

g-Ngừa bệnh tái phát :

-Uống hết 1 lọ thì ngưng. Thỉnh thoảng mỗi tuần uống 1 lần 1-2 viên để duy trì khí huyết tuần hoàn lên má mặt.

-Mỗi ngày tập 7 bài dầu khí công thông thần kinh đầu mặt.

-Nhớ lúc nào cũng cần phải đo áp huyết 2 tay để theo dõi khí huyết hai bên tay có bị chênh lệch nhiều hay không như bên thực chứng bên hư chứng, để điều chỉnh áp huyết tránh có nguy cơ bị tái phát.
Bên thấp hư chứng phải bấm huyệt Ế Phong bên thấp cho áp huyết tăng cao bằng bên kia. Nếu hai bên đều thấp, bấm cả 2 bên Ế Phong và tập bài Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực, ăn uống thuốc có chất bổ máu, hoặc tiếp tục uống Đại Hoạt Lạc Đan thông khí huyết lên mặt và làm tăng áp huyết.

(Tài liệu huyệt tìm trong link này : khicongydaovietnam.wordpress.com)

doducngoc

April 16, 2014 / khicongydaovn

Bệnh migrain và bệnh rối loạn tiền đình, nguyên nhân và cách chữa đơn giản, hiệu qủa nhanh

1-Máy nhiệt kế tìm ra được bệnh thiên đầu thống (migrain)

Một bệnh nhân có số đo áp huyết bình thường trong tiêu chuẩn thì không có bệnh, nhưng một bên tiêu chuẩn thấp, một bên tiêu chuẩn cao, bệnh nhân sẽ bị nhức đầu 1 bên.

Thí dụ áp huyết tiêu chuẩn tuổi trung niên :

120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)

Khi một người có bệnh thiên đầu thống 1 bên, thì áp huyết bên nửa đầu bị đau sẽ thấp hơn, thí dụ như 95-100/60-65mmHg mạch đập 65-70, còn bên nửa đầu chưa đau sẽ là 115-120mmHg/65-70mmHg mạch 65-70. Nghĩa là có áp huyết chên lệc 2 tay khoảng 20mmHg thấp hơn so với tiêu chuẩn tuổi

Khi áp huyết hai tay vẫn chênh lệch 10-20mmHg, nhưng cả hai tay đêu thấp như áp huyết tre3 em, thí dụ như vẫn bị nhức đầu 1 bên, có áp huyết là : 80/55-60mmHg mạch 60, còn tay kia 95-100/55-60mmHg mạch 60-65, lúc đó tây y mới phát hiện ra bệnh ung thư sọ não, nguyên nhân do thời gian chữa bệnh migrain không đúng gốc bệnh một thời gian dài 10-20 năm để cho tế bào não thiếu máu nuôi dưỡng mới trở thành tế bào ung thư kết khối thành bướu.

Nếu dùng máy nhiệt kế đo bên nửa đầu áp huyết thấp so sánh với bên nửa đầu áp huyết cao, bên cao nhĐứng Hát Kéo Gối Lên Ngực 200 lần và bài Cúi Ngửa 4 Nhịp 20 lần, day Hà Đồ Lạc Thư thông khí huyết hoạt động trong não, sau đó hướng dẫn bệnh nhân tập 7 bài đầu khí công. Đo lại nhiệt độ trên đầu nhiệt kế chỉ đều hai bên nửa đầu giống nhau từ 36.6 đến 37.5 đô C sẽ khỏi bệnh.

Một bệnh nhân bước vào phòng mạch khai bệnh migrain, tôi không hỏi đau bên nửa đầu nào, chỉ cần đo áp huyết hai tay, sẽ có một bên thấp hơn tiêu chuẩn và thấp hơn tay bên kia. Tôi cho biết ngay bên đau, và dùng súng nhiệt kế đo nhiệt nửa bên đầu không đau so sánh với bên nửa đầu đau. Chúng ta sẽ thấy kết qủa, bên không đau nhiệt độ thấp 36 độ, bên đau máy không hiện ra độ, mà chỉ Lo (low). Chúng ta bấm máy để xem trong đầu đã hình thành bướu não chữa, nếu chu vi đo trên da đầu có một vùng đo không hiện ra độ, mình dùng ngón tay cào thử hay gõ thử trên vùng không có độ và hỏi bệnh nhân có cảm giác ra sao, bệnh nhân sẽ trả lời không thấy đau.

Điều đó có ý nghĩa bệnh nhân đau đầu phía trong đầu vì máu không lên nuôi não, máu không chạy ra đến da đầu, bệnh nhân nói đau đầu nhưng không phải đau bên ngoài trên da đầu do áp huyết cao, hay do sung huyết não, hay do nhiệt thời tiết khi ra nắng làm nóng nhức đau đầu, mà đau đầu do không đủ khí huyết lên nuôi đầu não, phía trong đầu, và da đầu mỏng sát và hộp sọ, mình có cảm tưởng da đầu mỏng chừng 1mm, khác với người đau đầu áp huyết cao thì da đầu rầy khoản2-3mm không díng sát vào xương sọ..

Như vậy những bệnh nhân nào đau migrain thiên đầu thống mà áp huyết thấp so với tiêu chuẩn tuổi, bác sĩ hay thầy thuốc đông y không cho dùng thuốc bổ máu giúp cơ thể đủ khí huyết và giúp máu tuần hoàn nuôi não, chỉ dùng thuốc giảm đau, thì sau thời gian 10 năm áp huyết không tăng theo tuổi, thì vùng tế bào não thiếu máu nuôi dưỡng trong 10-20 năm, sẽ bị kết thành khối u sọ não.

Cách chữa :

a-Tạm thời bơm máu lên nuôi não, nếu áp huyết thấp cả hai bên so với tiêu chuẩn tuổi thì bấm kéo cả hai bên tai, huyệt Ế Phong, bảo bệnh nhân cuốn lưỡi ngậm miệng, thở bằng mũi giữ khí. Công dụng của huyệt này làm tăng khí huyết lên đầu nuôi não và làm tăng áp huyết tạm thời, còn chữa gốc thì cần phải dùng thuốc bổ máu, nếu uống nước Coca cola cũng tạm thời làm tăng khí lực đẩy máu lên nuôi não

b-Có thể bệnh nhân cùng lúc tập Nạp Khí Trung Tiêu lâu trong 60 giây, cùng lúc mình đứng về phía đầu bệnh nhân kéo hai huyệt Ế Phong giữ lâu 60 giây, sau đó bệnh nhân bỏ chân xuống vẫn ngậm miệng giữ khí, lúc đó mặt bệnh nhân đỏ lên, trán nóng xuất mồ hôi, nghỉ 1 phút, đo lại áp huyết, thấy áp huyết hai tay lên đều, đo nhiệt độ trên đầu, hai bên nửa đầu đã hiện ra nhiệt độ bằng nhau, khí lực đã đẩy máu vào vùng tế bào thiếu máu làm tăng nhiệt mất hàn.

Tập 3-5 lần như trên, thì vùng nửa đầu trước kia mất cảm giác, bây giờ dùng ngón tay gõ lên đầu bệnh nhân đã cảm thấy đau, vùng chu vi không có nhiệt độ đã thu hẹp dần chỉ còn một điểm đau ở chính giữa vùng chu vi, thì châm nặn máu tiếp.

c-Theo đông y khí công, châm nặn máu để thông khí, khí thông sẽ đẩy máu thông, rồi đo lại nhiệt nơi châm, sẽ hiện ra độ bằng những nơi khác.

d-Tập bài Cúi Ngửa 4 Nhịp 20 lần giúp cung cấp máu lên nuôi não, bài Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực 200 lần làm tăng áp huyết lên đâu.Tập 7 bài đầu khí công để chỉnh thần kinh bộ đầu.

Dặn bệnh nhân kiêng không ăn chua làm mất máu, làm hạ áp huyết. Cần uống thuốc bổ máu đông y Bổ Hư Thang hay thuốc tây y, tiêm Vit.B 12, hay uống thuốc viên liều cao 5000mcg/ngày cho đến khi áp huyết lên đúng tiêu chuẩn tuổi để không bị ung thư sọ não, song song vớí tập khí công như đã hướng dẫn ở trên.

Áp dụng trong vài tuần thì bệnh migrain sẽ khỏi, có nhiều bệnh nhân khai đã khỏi bệnh migrain mà dùng thuốc tây y 5-10 năm không khỏi.

2-Khám ra bệnh rối loạn tiền đình, hay ù tai, tai giảm thính lực bằng nhiệt kế.

Bệnh rối loạn tiền đình thì ngược lại, thí dụ áp huyết tiêu chuẩn tuổi trung niên :

120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)

Nhưng khi bị bệnh rôi loạn tiền đình thì chên lậc áp huyết 2 tay cũng khoảng 20-30mmHg, nhưng một bên cao hơn tiêu chuẩn, thí dụ một bên tay có áp huyết 140mmHg, một bên tay kia có áp huyết 110mmHg, như vậy người bệnh sẽ bị đi lảo đảo dễ té ngã.

Vì áp huyết 140mmHg chưa phải là bệnh cao áp huyết, nên không cần phải uống thuốc trị bệnh áp huyết, nên tây y không cho nguyên nhân bệnh này là rối loạn cân bằng áp huyết mà cho là virus trong tai, nhưng thật ra sau khi chỉnh cho áp huyết hai tay bằng nhau thì khỏi bệnh hoàn toàn, thì lý do virus trong tay không chính xác, vì nếu mổ tai làm sao biết được virus đã được mổ hết chưa, có ai nhìn thấy virus trong tai như thế nào chưa, nếu nó chạy sang chỗ khác vẫn làm cho bệnh rối loạn tiền đình không khỏi thì sao, và nếu có virus tại sao không dùng thuốc kháng viêm để khỏi phải mổ.

Một người có bệnh rối loạn tiền đình, do tây y khám bệnh cho biết nguyên nhân có virus trong tai cần phải mổ tai giữa, bệnh nhân hỏi về hậu qủa không mổ thì sao, và mổ sẽ có biến chứng gì. Bác sĩ cho biết, không mổ thì virus ăn lên óc sẽ chết, còn mổ thì khỏi chết nhưng nếu không may chạm phải dây thần kinh thì liệt mặt. Cuối cùng bệnh nhân ký giấy chấp nhận mổ. Trước khi đến ngày mổ, có người giới thiệu đến tôi, cũng nhờ máy đo nhiệt kế, loại đặc biệt đo ở lỗ tai tên Thermomètre auriculaire compact hiệu Bios (Compact ear thermometer Bios), cũng có một bên cao, một bên thấp chênh lệch nhau nhiều, và đo áp huyết hai bên chênh lệch nhau nhiều, bên tai rối loạn tiền đình thường thấp dưới tiêu chuẩn, bên tai lành áp huyết ở tay kia cao hơn tiêu chuẩn, nên uống thuốc áp huyết thì càng bị đi đứng lảo đảo nghiêng người một bên mất thăng bằng, còn không uống thuốc thì bị nhức đầu tăng áp huyết.

Tôi cho tập 7 bài đầu khí công, bấm Ế Phong day bên thấp thì bổ thuận chiều kim đồng hồ và giữ lại lâu, bên cao thì tả ngược chiều kim đồng hồ và buông ra không giữ, máy đo áp huyết đặt bên tay thấp, đo lại áp huyết bên tay thấp tăng, bên tay cao hạ thấp, và tôi hướng dẫn tập toàn bài khí công, và tập thở Lập Lư Đảnh, bệnh nhân đi đứng lại bình thường, không cần mổ. Chuyện này xảy ra đã làm mất lòng các bác sĩ có liên quan đến bệnh nhâniệt kết chỉ từ 36.0 độ C đến 36.5 độ C, bên nửa đầu đau nhiệt kế chỉ Lo (thấp không bắt được nhiệt độ, do huyết hàn không tuần hoàn, nhờ máy đo nhiệt độ, chúng ta khoanh vùng biết được diện tích hay ngay cả khối u sọ não trong trường hợp áp huyết hai tay dưới 90mmHg.

Cách chữa : Bấm 2 huyệt Ế Phong cung cấp máu lên não và làm tăng khí huyết lên đầu . (Tìm trên Internet : Sổ tay tìm huyệt)

Tâp toàn bài thể dục khí công mỗi ngày để duy trì áp huyết ổn định lọt trong tiêu chuẩn tuổi.

Mở Internet, đánh chữ : khicongydaovietnam.wordpress.com trong thông báo 20, có video toàn bài thể dục khí công, rồi tập theo.

doducngoc

April 16, 2014 / khicongydaovn

Thư hỏi bệnh

Qúy vị muốn gửi thư hỏi bệnh :

Chúng tôi cần phải biết tình trạng Khí và Huyết Hư hay Thực, Hàn hay Nhiệt bằng máy đo áp huyết theo hướng dẫn sau để chữa vào gốc bệnh :
Cần phải mua 1 máy đo áp huyết và máy đo đường để tự khám bệnh theo hường dẫn dười đây :

Những thư hỏi bệnh cần những chi tiết sau đây :
· Giới tính, tuổi, cảm giác bàn tay chân và trán nóng hay lạnh, đi cầu bón hay tiêu chảy.
Cần đo áp huyết rõ ràng trước và sau khi ăn ở 2 tay đủ 3 số mới biết tình trạng
Khí lực/Huyết/Hàn-nhiệt và so sánh trước sau ăn xem chức năng hấp thụ chuyể hóa thức ăn
Máy đo áp huyết đo bên tay trái để khám chức năng bao tử, đo bên phải khám chức năng gan, đo 2 tay trước khi ăn và sau khi ăn 30 phút để khám chức năng hấp thụ và chuyển hóa thức ăn. Nếu chân yếu thì đo 2 cổ chân trong để biết khí lục của chân, đo cà đường-huyết.
Mục đích để biết tình trạng gốc bệnh là Khí Lực dư hay thiếu do tập luyện/Huyết dư hay thiếu do ăn uống/Đường trong máu
Kết qủa đo được đem so sánh với tiêu chuẩn tuổi đủ hay thiếu, mới có thể hướng dẫn cách điều chỉnh Tinh-Khí-Thần để khí/huyết trở lại bình thường mới khỏi bệnh được.
Nếu không đầy đủ chi tiết thì chúng tôi không thể trả lời.

Đây là bảng tiêu chuẩn áp huyết theo loại tuổi theo kinh nghiệm của khí công y đạo :
95-100/60-65mmHg, mạch tim đập 60-120 là áp huyết ở tuổi thiếu nhi.( 5 tuổi-12 tuổi)
100-110/60-65mmHg, mạch tim đập 65 là áp huyết ở tuổi thiếu niên (13 tuổi – 17 tuổi)
110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi)
120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)
130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)

khicongydaovietnam.wordpress.com

April 15, 2014 / khicongydaovn

Những Dấu Hiệu Liên Quan Đến Bệnh Parkinson Và Cách Chữa Kết Qủa Nhanh.

Những Dấu Hiệu Liên Quan Đến Bệnh Parkinson Và Cách Chữa Kết Qủa Nhanh.

1-Parkinson tay.

a-Môt bệnh nhân Quebecois bị bệnh Parkinson ở tay, đo nhiệt trên đầu, kết qủa sai biệt khác nhau, chỗ cao, chỗ thấp, chỗ không có độ, ở những chỗ độ cao và chỗ không có độ đều phải châm nặn máu, rồi cào đầu bằng 5 đầu ngón tay của mình cho thông khí huyết. Khi đang cào đầu thì tay của bệnh nhân run giật liên hồi, ngưng cào đầu thì tay bệnh nhân im, ngưng run giật.

Đây là hậu qủa của bệnh kinh phong co giựt hồi còn ở tuổi thiếu nhi, thiếu niên do tuổi còn nhỏ mà áp huyết đã cao như người lớn, áp huyết cao chữa không đúng gốc bệnh, nên hiện nay có tình trạng những dây thần kinh có nơi co, nơi giãn.

b-Đo áp huyết hai tay, bên cao áp huyết, bên thấp áp huyết, lọt trên tiêu chuẩn và lọt dưới tiêu chuẩn. Bên cao hơn tiêu chuẩn phải châm nặn mắu 5 đầu ngón tay, ngón chân bên cao, bên thấp phải kéo huyệt Ế Phong cho áp huyết bên thấp tăng lên.

c-Đo lại áp huyết hai bên, nếu bằng nhau mà còn thấp thì kéo 2 huyệt Ế Phong cùng lúc bệnh nhân tập bài Nạp Khí Trung Tiêu lâu 60 giây.

Nếu áp huyết hai tay còn cao thì đặt hai bàn tay bệnh nhân chồng lên nhau ở huyệt Khí Hải, cuốn lưỡi ngậm miệng thở tự nhiên bằng mũi, không chú trọng đến hơi thở, chỉ cần buông thả lỏng toàn thân, đặt cây nhiệt kế bình thường như nhiệt kết cặp sốt điện tử (có thể thấy được nhiệt độ nhảy lên từng 1/10 độ) dưới lòng bàn tay. Mình cho bệnh nhân biết nhiệt độ dưới hai bàn tay bắt đầu chỉ là bao nhiêu, thí dụ 26 độ, chỉ cần nằm nghe bàn tay nóng dần, bao giờ nhiệt kết chỉ lên 37.5-38.0 mới xong cách thở thiền. Chúng ta sẽ thấy độ tăng lên từng 1/10 độ như 26.1, 26.2. 26,3……37.1,37.2…

d-Đây là bài tập khí công thiền ở Đan Điền Tinh, có kết quả, là bàn tay bây giờ nóng hơn trán, có nghĩa là áp huyết đã xuống. Có thể để máy đo áp huyết nơi cánh tay sẵn, thỉnh thoảng bấm máy, thấy áp huyết xuống dần, khi nhiệt kế ở bàn tay tăng lên 37.5-38.0 độ C thì chính lúc đó đo áp huyết hai tay đã xuống khoảng 120-130mmHg, và để ý khi đặt chồng hai bàn tay lên huyệt, hai bàn tay hết run giựt. Vì bệnh Parkinson là bệnh thuộc thần kinh do tắc khí huyết làm ức chế thần kinh hay do áp huyết cao làm hưng phấn thần kinh..

e-Ngược lại bệnh run giựt tay chân do thần kinh ức chế, sẽ có áp huyết hai tay thấp, khi đưa tay ra phía trước một mình thì run giựt, khi đặt tay lên bàn hay nơi điểm tựa nào đó thì hết run giựt, thì đông y khí công không xếp vào loại bệnh Parkinson, mà do thiếu khí huyết, như bài Quốc Văn Giáo Khoa Thư khi còn trẻ chúng ta đã học : Ông tôi năm nay 70 tuổi, lưng còng, tóc bạc, đi đứng run lẩy bẩy….thì không phải là bệnh thần kinh Parkinson, còn thực chứng là do áp huyết cao, thần kinh bị ứ tắc, dân gian thường gọi là dây thần kinh chạm mát. Cần phải theo dõi áp huyết, tập khí công bài Vỗ Tay 4 Nhịp, thở Đan Điền Tinh, không ăn cay nóng làm táo bón, cao áp huyết.

f-Dùng nhiệt kế đo nhiệt độ từ vai, cùi chỏ, cổ tay, ngón tay, có điểm nào không có độ hay diểm nào có độ thấp nhất, điểm nào có độ cao nhất, chứng tỏ khí huyết lưu thông nơi cánh tay không đều, lúc nhiều lúc ít, lúc mạnh lúc yếu, dùng kim thử tiểu đường châm nặn máu các điểm đó, cho đến khi các nơi dều có nhiệt độ giống nhau như vậy là khí huyết đã thông đều ra đến tay.

g-Thông thần kinh đầu :

Đo nhiệt kế ở huyệt Thừa Linh bên trái và bên phải, huyệt Phong Trì bên trái và bên phải, huyệt Đại Chùy giữ cuối xương cổ và đầu đốt xương cột sống sẽ thấy nhiệt đô khác nhau, nên thần kinh điều khi63n vận động bị bết tắc không thông, châm nặn máu cho các huyệt được thông, có nhiệt độ bằng nhau, thì thần kinh vận động trong não sẽ tự điều chỉnh lại được những thần kinh hưng phấn hay ức chế của những cử động tay chân theo ý muốn.

Có những bệnh nhân vừa bị chứng co giật tay nhẹ, phát hiện kịp thời, chỉ cần châm nặn máu huyệt Thừa Linh là cánh tay và bàn tay hết run giật.

Còn thiếu khí huyết áp huyết thấp, không cần phải dùng thuốc chữa thần kinh, mà cần uống thuốc bổ máu, tập Vỗ Tay 4 Nhịp, tập bài Nạp Khí Trung Tiêu , Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực cho tăng áp huyết, thông đủ khí huyết lên đầu và ra tay chân.

Những bệnh lâu năm chữa không khỏi vì không theo dõi áp huyết và đường-huyết, qúa cao hay qúa thấp, chỉ uống thuốc trầm cảm càng làm tê liệt chức năng phản xạ làm hưng phấn hoăc ức chế thần kinh không tự kiểm soát được chức năng vận động, trường hợp này phải ngưng thuốc, thay vào thuốc thì mỗi ngày day huyệt theo Hà Đồ Lạc Thư Trên Đầu 3-4 lần /ngày để phục hồi lại chức năng thần kinh.

2- Parkinson chân.

Một linh mục bị Parkinson chân, chân đi giựt giựt, không tự chủ bước chân được, ý muốn đi, nên người ngả về phía trước nhưng chân lại díng cứng 1 chỗ không chịu đi nên thường bị té ngã.

Có hai lý do, thần kinh đầu không điều khiển được chân, thần kinh và ống dẫn máu dưới chân bị ứ tắc không thông

a-Đo nhiệt độ trên đầu, châm những nơi có nhiệt độ qúa cao hơn những nơi chung quang, và châm vào những nơi không hiện lên độ, rồi cào đầu chỉnh cho khí huyết thông lên đâu, thông các dây thần kinh.

Đo nhiệt độ dưới ngón chân, ngón chân nào không chỉ độ thì khí huyết không chạy đến làm chân cứng, khi châm nặn máu đo độ để kiểm tra cách chữa đã làm khí huyết thông xuống chân chưa, nếu chưa châm nặn máu tiếp.

b-Bảo bệnh nhân nằm dơ một chân thẳng chỉ lên trời, vỗ đập chân cho máu đỏ xuống máu đen nơi các ống tĩnh mạch được trả về tim. Vỗ chân này đến chân kia.

c-Bệnh nhân nằm úp. cũng Vỗ Đập Chân ở thế nằm, rồi tập gấp gối ép chân vào mông ở thỉ thở ra, mỗi bên chân tập 36 lần cho chân mền, gân cơ thư giãn.

d-Cho bệnh nhân đứng lên, tập hát bài one, two, three…cho thuộc nhịp, hát cho đều. Sau đó mình nắm một tay bệnh nhân để dắt đi. Trươc khi đi, mình hô to như ra lệnh cho lính : Nhấc chân…Nhấc ! Bước ! hát liền one, two, three… mỗi bước đi là một chữ.. .thế là bệnh nhân đi được, dắt và hơi kéo bệnh nhân đi nhanh thêm và đi cho đúng nhịp, bắt bệnh nhân hát to, rồi buông tay, vẫn hát cùng với bệnh nhân, nhưng để bệnh nhân đi một mình, mình đi bên cạnh đề phòng bệnh nhân té ngã, cứ cho đi vòng tròn rộng không được ngừng, vì khi bị ngừng lại, là hai bàn chân bệnh nhân dính chặt vào đất, không bước được nữa sẽ bị té ngã. Muốn đi nữa lại bảo bệnh nhân tự ra lệnh cho mình khẩu lệnh : Nhấc chân…Bước ! là bước đi liền. Còn bệnh nhân lúc đó như người máy, cứ đi mà không ngừng lại được, sợ đi thẳng nữa sẽ đụng tường, thì bảo bệnh nhân tự hô to khẩu lệnh : Ngừng ! thế là bệnh nhân ngừng,

e-Đây là cách luyện thần kinh, có khẩu lệnh : Nhấc chân…Bước ! hay : Ngừng ! để thần kinh bộ đầu chỉ huy thần kinh vận động cho quen …Sau đó ra lệnh thầm trong đầu để tự đi đứng một mình.

Bệnh này chỉ một lần chữa là đi được ngay, nhưng ở nhà phải có một người như thầy giáo, hay huấn luyện viên, đi kèm bắt tập luyện ở khoảng trống rộng, mỗi ngày tập 2-3 giờ, trong 1 tháng. Nếu không, do lười tập, bệnh lại tái phát, thần kinh chỉ huy và thần kinh vận động lại tách rời.

f-Tốt nhất để cho bệnh nhân tự tập đi lên xuống cầu thang, để làm mạnh chân, tăng thể lực, chỉnh thăng bằng thần kinh não bộ, phải vừa đi vừa hát one, two, three…

Tôi đã từng cho các bệnh nhân tê liệt chân và bệnh Parkinson tập đi lên cầu thang 10 tầng ở trong bệnh viện, cứ đi lên 10 tầng bên tay trái bệnh viện rồi đi lòn lách trên hành lang bệnh viện để sang đầu cầu thang bên kia đi xuống từ lầu 10, lại đi qua phía bên đây leo lên lầu 10, đi qua bên kia đi xuống, chỉ đi kèm bệnh nhân để phòng ngừa té ngã, nhưng bệnh nhân nào cũng đi giỏi như người bình thường.

Có người khi mới đến phòng mạch, đi không được phải có người nhà bế đi, khi ngồi ghế chờ một lúc, khi tôi bảo đứng lên cũng không tự đứng được vì 2 chân cứng, hay cái đầu không biết cái chân ở đâu.

Tôi bảo, thôi bệnh này không cần vào trong phòng chữa, để tôi dắt đi ngay bây giờ, Khi người nhà dùi bệnh nhân đứng lên được rồi, tôi day Hà Đồ Lạc Thư trên đầu, vê đau 10 đầu ngón tay chân xong, tôi bảo bện nhân nhấc co 1 chân lên, rồi tâi ra lệnh bước, tôi cầm tay phía trước mặt bệnh nhân kéo bệnh nhân đi dài bước, vừa đi vừa hát one, two, three, đi trong hành lang dài 12m, đi 10 vòng, khi chân bệnh nhân đã bước dẻo đều, chân không còn cứng, tôi đi sau, cho bệnh nhân đi trước, bệnh nhân đi được đường thẳng, bỗng nhiên bệnh nhân la lên : Con ơi ! Bảo mẹ dừng đi không thì mẹ đi đụng vào tưòng bây giờ. Có nghĩa là bệnh nhân đi như người robot, thần kinh đầu chưa điều khiển được bước chân như ý muốn. Tôi bảo : Tự bà phải nói lớn như ra lệnh cho cái đầu biết : Dừng lại ! Nó sẽ tự động dừng lại.

Bây giờ bà tự ra lệnh : Nhấc chân, Nhấc ! Bước đi, bước ! Dừng lại, dừng!

Cứ thế bà bệnh nhân này tự đi tự đứng, tự dừng. Cà phòng đợi mọi người cười ồ, cả bà cũng cười vui vẻ, vì đã biết cách đi, bà nói từ nay tôi sẽ bỏ thuốc, vì càng uống càng bệnh nặng thêm.

Có những bệnh nhân chỉ đi được đường thẳng, đến cuối đường muốn quay trở lại để đi rất khó không quay người được, thì tôi cho họ luông luôn đi về phía trước đi theo vòng số 8 để có lúc quẹo trái, có lúc quẹo phải, và để cho đầu gối không bị cứng khi đi thì cho bệnh nhân tập lên xuống cầu thang, thì bệnh Parkinson tự khỏi, chỉ cần theo dõi áp huyết và đường lúc nào cũng nằm trong tiêu chuẩn tuổi, và tự tập 7 bài đầu khí công chỉnh thần kinh.

Bệnh Parkinson này dễ chữa đối với những bệnh nhân thường không có sở tri kiến chấp, còn đối với các bác sĩ bị bệnh này thì họ không tin, không chịu chữa theo những phương pháp không phải của tây y, chỉ tin vào thuốc, khiến bệnh càng ngày càng nặng không đi được nằm liệt giường tiêu tiểu tại chỗ, có than trời trách đất thì cũng đã muộn, không còn sức mà tập đi được nữa.

(Tìm trên Google, Khí Công Y Đạo Việt Nam Montreal, trong thông báo 20 có những bài tập khí công )

Làm sao đi đứng được dễ dàng trong bệnh Parkinson ?

Theo Tây y, Bệnh Parkinson là một trong các bệnh thuộc thần kinh có tên chung là Rối loạn thăng bằng, khác với mất thăng bằng do bệnh chóng mặt. Rối loạn thăng bằng thường xuyên khiến cho bệnh nhân cảm thấy đi không vững mất an toàn, người ngoài nhìn vào thấy bệnh nhân đi lệch người như muốn ngã, có loại rối loạn thăng bằng ở thế đứng do áp huyết giảm ở thể đứng, ngồi hay nằm thì được, hễ đứng lên là ngã, có loại mất thăng bằng ở thế đi, cứ bước đi vài bước ngắn lại bị dậm chân tại chỗ như chân bị dính chặt xuống đất do bị tổn thương hồi trán, thể chai, đó là hội chứng của bệnh Parkinson, bệnh hystérie ( bệnh rối loạn chức năng thần kinh ).

Phân biệt cách đi để chẩn đoán bệnh tìm nguyên nhân như :

Rối loạn thăng bằng do nguyên nhân tiền đình :

Có dấu hiệu tổn thương tiền đình như rung giật nhãn cầu, ngón tay trỏ lệch, có dấu hiệu Romberg khi đứng hai gót chân dụm lại nếu nhắm mắt là bị ngã, khi đi bị lệch, thính giác giảm do u giây thần kinh VIII., tổn thương mê đạo lỗ tai trong, gây chóng mặt, thân não xơ cứng rải rác..

Rối loạn thăng bằng do u tiểu não :

Thuộc hội chứng thùy nhộng hay thùy giữa có dấu hiệu hai chân cứ dạng ra, khi bị đẩy từ trước ra sau không gượng lại được, dáng đi như người say rượu lệch bên phải lệch bên trái đi quá tầm..

Suy tuần hoàn đốt sống :

Do bị té ngã đột ngột làm mất thăng bằng khi đi có cảm giác không an toàn.

Rối loạn thăng bằng nguyên nhân do phản ứng thuốc :

Do dùng loại thuốc không thích hợp bị phản ứng hoặc lạm dụng thuốc điều trị an thần kinh (như Largactil, Aminazine,Halopéridol..),loại Carbon oxyde, Mangan.. làm run thành bệnh Parkinson. Thuốc chống trầm cảm làm run nhanh ở lưỡi khiến nói khó và run các đầu chi, thuốc Litbium làm run không đều ở các đầu chi. Ngoài ra còn những chứng run giật do nhiều nguyên nhân khác không liên quan đến bệnh Parkinson không ảnh hưởng đến vấn đềđi mất thăng bằng thường xuyên không nằm trong phạm vi bài này.

Theo đông y, bệnh run giật tay chân hay đầu cổ được chia làm hai loại hư chứng và thực chứng :

Run giật do hư chứng không phải là bệnh Parkinson: Do gìa yếu cơ thể suy nhược, mặc dù có dấu hiệu run tay chân, cầm một vật không vững chắc, ngay cả khi đưa cánh tay để với lấy một vật gì cũng thấy run lẩy bẩy, khi đi hai chân run không vững như muốn ngã không do chóng mặt, nhưng nếu khi đặt tay trên bàn có điểm tì tựa thì hết run, theo đông y là loại bệnh thiếu khí lực, nếu cho dùng thuốc trị Parkinson là không đúng bệnh, nếu dùng thuốc này một thời gian sau thành bệnh rối loạn thần kinh sẽ thành bệnh Parkinson thực, tạo ra rung tâm nhĩ tâm thất, rối loạn nhịp thở và áp huyết gây bloc và đứt mạch có nguy cơ tử vong.

Run giật do thực chứng chính là bệnh Parkinson: Khi run giật không kiểm soát được, mặc dù tay được đặt trên bàn có điểm tì tựa cũng vẫn run giật. Bệnh do chạm mát thần kinh vận động tay chân, chỉ huy của thần kinh và phản xạ vận động của tay chân không đồng bộ. Thí dụ nhưđang đi người bệnh muốn đứng lại ngay sẽ không được vì thân người vẫn bị đẩy về phía trước trong khi chân đứng lại tạo ra dáng đi dật dật dậm chân tại chỗ khiến người muốn ngã về phía trước nên họ cảm thấy đi không được an toàn.

Theo khí công chữa bệnh đã áp dụng thử nghiệm dùng khí công hướng dẫn cho các bệnh nhân bị bệnh Parkinson tự chữa khỏi bệnh bằng cách dạy tập thở và tập đi, chỉ hướng dẫn một lần thì dáng đi trở thành bình thường, và nhiều bệnh nhân đã nhờ cách tập này mà khỏi bệnh.

a-Cách tập thở : Ngồi tựa lưng trên ghế dựa, thẳng lưng, hai bàn tay để ngửa trên đùi, cùi chỏ sát vào hông, mắt mở nhìn vào phía bên tay hoặc bàn tay bị run giật. Hít vào thật nhẹ như ngửi một mùi thơm của một bông hoa, thở ra nhẹ, khi thở ra nhớ hạ vai xuống. Hãy để ý khi hít vào mạnh vai nâng lên dù chỉ một ít chúng ta sẽ thấy bàn tay và ngón tay run giật liên hồi, nếu hít thởđúng, không nâng ngực không nâng vai thì tay không run giật nữa, theo đông y bệnh Parkinson là bệnh dư khí làm rối loạn thần kinh, do nhu cầu sống mà chúng ta cần phải thở, nhưng thở êm nhẹ vừa đủ thở vào, trái lại cần thở ra nhiều hơn thở vào để giảm bớt khí dư thì khí trong cơ thểđược quân bình, lập tức hệ thần kinh giao cảm và đối giao cảm cũng được quân bình, lúc đó tuyến nội tiết tựđiều chỉnh tạo ra thuốc chữa rối loạn chức năng thần kinh. Cứ mỗi hơi thở theo dõi thấy bàn tay và ngón tay hết run, cứ tập tiếp khoảng 15 phút một lần tập, có thể tập nhiều lần trong ngày và tập nhiều ngày cho đến khi hết bệnh run tay, lúc đó ý làm chủ được hệ thần kinh chức năng có lợi cho chữa bệnh.

b-Cách đi : Chúng ta để ý khi bắt đầu bảo bệnh nhân đi, bệnh nhân cứđứng hoài tại chỗ hoặc ý muốn đi đưa người về phía trước nhưng hai bàn chân bị dính chặt xuống đất không bước đi được khiến thân người mất thăng bằng dễ bị ngã, cho nên bệnh nhân cảm thấy sợ mất an toàn không dám tập đi nữa, và người nhà cũng không dám cho bệnh nhân tập đi nữa, đa số nằm lâu khí huyết tụ làm chân sưng phù nặng nề, da chân nóng, có nhiều đường gân máu quanh cổ chân nổi xanh đen đau nhức. Để giúp bệnh nhân đi được dễ dàng ở bước đầu tiên khởi hành, nên nhờ vào marchette ,bảo bệnh nhân nhấc co một chân lên, đi như kiểu lính tập diễn hành, đi bằng gót.

Có 4 điều cấm kỵ trong khi đi :

  • Không được đi bằng cả bàn chân chạm đất, tự nhiên sẽ bị dính chân tại chỗ không đi được, tốt nhất là lót thêm một vật gì để lót đệm cao 5 ngón chân lên cho khỏi chạm đất để bệnh nhân chỉ có thểđi bằng gót chân.
  • Khi đứng lại không bao giờđược đứng hai bàn chân ngang hàng nhau như người bình thường khiến thần kinh vận động chân bị chạm mát, phải đứng một chân trước một chân sau đến khi muốn đi tiếp sẽ dễ dàng.
  • Khi đi thẳng về phía trước hết chỗ muốn quay trở lại, nhớ là không được đứng lại chụm chân vào một chỗ hoặc hai bàn chân ngang hàng nhau, mà phải như lính vừa nhấc đầu gối dậm chân tại chỗ vừa quay người , lúc nào ở dưới đất cũng chỉ có một chân chạm đất.
  • Không được đi bước ngắn dễ bị ngã, phải đi bước dài, nếu đi được tự nhiên không cần marchette, nên đi trên lề đường chung quanh khu nhà, hoặc ngoài vườn có người thân đi kèm. Để ý thếđứng đi phải tự nhiên thư giãn, nếu đi đánh tay cao hoặc mạnh qúa cũng làm cho mất thăng bằng hoặc cứng chân đi không được. Có thể nên để hai tay sau lưng rồi đi như người nhàn rỗi ngắm hoa trong vườn. Tập đi mỗi ngày như thế thần kinh chức năng được phục hồi trở lại. Nếu muốn vừa đi vừa luyện thở theo khí công thì vừa đi vừa hát bài : one, two three, four, five, six, seven….

Khi tập thở và tập đi có kết qủa như người bình thường thì bệnh Parkinson cũng đã khỏi, nên đề nghị bác sĩđiều trị khám lại và giảm liều lượng thuốc, đổi loại thuốc nhẹ hơn và vẫn cứ tập thở đều đặn mỗi ngày để cơ thể tự tạo ra thuốc qua hệ nội tiết gọi là thuốc nội dược vừa đúng và đủ nhu cầu không gây phản ứng phụ, nó cũng tương đương với thuốc uống ngoại dược từ bên ngoài đem vào cơ thể nhưng thuốc ngoại dược sẽ gây ra phản ứng phụ tạo ra một bệnh khác .

3-Đầu rung lắc liên tục do chấn thương đầu :

Nam bệnh nhân Colombian 60 tuổi bị chấn thương nhẹ trên đầu, khiến đầu rung lúc lắc liên tục hơn 10 năm.

Khám bệnh bằng máy đo áp huyết và Nhiệt kế :

Tay trái 111/76mmHg mạch 59, tay phải 117/70mmHg mạch 57

Định bệnh theo ngũ hành :

Bệnh trên bộ đầu do áp huyết tay trái thấp, khí huyết không lên được tớI nửa đầu bên trái, các ống mạch và một sợi dây thần kinh nào đó đã teo lại, máu không qua được khiến đầu bị rung lắc. Theo phương pháp chữa của đông y khí công, muốn chữa cho thông khí huyết lên não và thần kinh bộ đầu, cần phải áp dụng những huyệt của Hà Đồ Lạc Thư, trong đó có hai huyệt Thừa Linh bên trái và bên phải.

Tôi dùng máy bấm nhiệt kế ThermoFlash vào 9 huyệt của Hà Đồ Lạc Thư, tất cả các huyệt đều chỉ nhiệt độ tương đương đều nhau ở khoảng 36.6 độ C, riêng huyệt Thừa Linh trái chỉ Lo (=low, thấp dưới 30 độ máy không bắt được tín hiệu)

Cách chữa theo Tinh-Khí-Thần :

Khí :

a-Dùng kim thử tiểu đường, châm vào huyệt Thừa Linh trái, nặn máu. Đo lại nhiệt độ điểm vừa châm lên 36.2 độ C. Tự nhiên đầu hết rung lắc lâu được 10 phút.

b-Sau khi châm huyệt Thừa Linh trái, bắt đầu day theo quy tắc Hà Đồ Lạc Thư

c-Hướng dẫn bệnh nhân bài tập Vỗ Tay 4 Nhịp 200 lần. Bài Cúi Ngửa 4 Nhịp 20 lần để đưa máu lên nuôi não và bài Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực 200 lần làm tăng áp huyết..

Sau khi tập, đo lại áp huyết, tay trái 125/75mmHg mạch 68, tay phải 123/74mmHg mạch 68.

Thần :

Hướng dẫn bệnh nhân tập thở Đan Điền Thần.

Tinh :

Khuyên bệnh nhân dùng thêm thuốc bổ máu để giúp máu lên đầu, có hai loại thuốc của tây y rất công hiệu là Acti-B12 hoặc Hormodausse, mỗi sáng khi ngủ dạy uống 1 ống, cho đến khi áp huyết lên 130/80mmHg mạch 70-80 thì ngưng.

4-Máy đo nhiệt kế tìm ra được dây thần kinh trên đầu ứ tắc làm tay run.

Một bệnh nhân tay thỉnh thoảng bị run đã 3 năm, tây y tìm không ra bệnh. Tôi đo áp huyết hai tay, thì tay bị run bên phải áp huyết thấp hơn tay kia, nhưng vẫn nằm trong tiêu chuẩn thấp ở tuổi của ông. Ông cho biết thỉnh thoản khi nào đầu có sợi dây thần kinh bị giật nhói đau đầu là tay bị run.

Tôi hỏi ông thường bị nhói đau đầu ở vùng nào trên đầu, ông chỉ và nói ở khoảng này mà không biết chỗ nào, ở nửa đầu bên phải. Đúng là bệnh nhân là thầy dạy mình kinh nghiệm, không nhờ bệnh nhân mình tìm không ra bệnh. Vùng đầu ông chỉ nó thuộc đường kinh Đởm, tôi dùng nhiệt kế bấm xem nhiệt độ trên đoạn đường kinh, bấm liên tục sát nhau từng 1cm dọc đường kinh, tôi đọc kết qủa hiện trên máy, như 37.2, 37.3. 37.0, 36.8, 36,6. 35.0, Lo, Lo, (không bắt được độ) 36.0. 36.6. 37.0…Tôi đo lại, đến đoạn Lo, tôi nói đây, nó đây, nó chính là thủ phạm, đoạn này dây thần kinh bị tắc do thiếu khí huyết không thông. Tôi châm nặn máu và đo lại nhiệt độ thành đều khắp đường kinh. Sau đó dùng huyệt Ế Phong để thông khí huyết trên đầu đưa áp huyết lên, và bấm Ế Phong phải mạnh hơn để đưa áp huyết bên tay phải lên cao hơn cho bằng tay trái.

Vừa châm nặn máu và bấm Ế Phong xong, thì ông bảo tay hết run rồi, sau đó hướng dẫn ông tập bài Vỗ Tay 4 Nhịp, để ông về nhà biết cách tự tập mỗi ngày.

5-Chứng minh được chứng bệnh hàn giả nhiệt, tây y chữa lầm thành bệnh Parkinson :

Có một bệnh nhân khi được đo áp huyết có nhịp tim thấp, áp huyết thấp so với tuổi 52 có số đo áp huyết là : 105/72mmHg nhịp tim 55.

Nếu so sánh với áp huyết tiêu chuẩn :

120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)

Chúng ta sẽ kết luận là bệnh nhân bị thiếu khí huyết, cơ thể hàn, cần phải uống thuốc Bổ Hư Thang.

Sau khi uống Bổ Hư Thang trong đó có chất bổ máu là Đương Quy, có chất bổ khí là Hoàng Kỳ, có chất tăng lượng đường trong máu và tăng áp huyết là Cam Thảo, có chất tăng nhiệt tăng áp huyết là Nhục Quế, và Bạch Thược là vị thuốc dẫn khí huyết và thông khí huyết cho ngũ tạng, liễm âm huyết, nhu can, thu hãn, hòa trung.

Bệnh nhân sau khi uống 2 ngày Bổ Hư Thang, đo lại áp huyết lên được :

Tay trái 128/72mmHg mạch 72, tay phải 125/75mmHg mạch 72.

Theo lý thuyết thì khí huyết đã lọt vào tiêu chuẩn như người khỏe mạnh. Nhưng bệnh nhân khai trong người nóng, người khó chịu, đầu căng, hai chân cứng không nhấc nổi chân, không có sức, bệnh nhân cho biết cơ thể yếu hơn so với trước khi chưa dùng thuốc, người nhà gọi điện thoại đến phòng mạch hỏi nguyên nhân tại sao, có phải thuốc không phù hợp ?

Tôi trả lời, thuốc rất cần cho cơ thể tăng khí huyết, kết qủa áp huyết lên đúng, nhưng tính hấp thụ chuyển hóa chậm do lười tập sau khi ăn 30 phút.

Người nhà trả lời, bệnh nhân qủa thực không chịu tập, nói rằng không có sức. Tôi bảo người nhà cầm đầu gối bệnh nhân, giúp bệnh nhân tập bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 100 lần, tập xong, ấn đè huyệt Trung Quản cho khí huyết quy tụ về trung tiêu 30 phút, phải thấy được bụng bệnh nhân phồng lên-xẹp xuống để chuyển hóa thức ăn và thuốc uống, sau đó ấn đè huyệt Khí Hải lâu 30 phút để đưa dẫn khí huyết xuống hạ tiêu nuôi chân, mạnh thận khí. Khi làm xong, đo lại áp huyết ở 2 chân và tay rồi điện thoại cho tôi biết.

Kết qủa áp huyết hai tay xuống : tay trái còn 115/80mmHg mạch 60, tay phải 112/78mmHg mạch 62, ở chân trái 148/82mmHg 80, chân phải 145/78mmHg mạch 75

Nhìn vào kết quả, chứng tỏ thuốc Bổ Hư Thang làm tăng áp huyết nhưng chưa đủ tiêu chuẩn, sau khi tập thuốc chuyển ra khỏi bao tử ra khắp cơ thể và chân tay, thì bao tử và gan vẫn hàn, áp huyết ở chân tăng, nhưng hai chân nóng hơn hai tay, chân trái nóng hơn chân phải.

Người nhà cho biết, tình trạng sức khỏe của bệnh nhân sau khi tập đã đỡ nhiều, nhưng bệnh nhân vẫn nói trong người nóng.

Sáng hôm sau đến ngày hẹn lại phòng mạch, bệnh nhân khai với tôi, trong người nóng lắm.

Tôi đo áp huyết hai tay, tay trái 106/62mmHg mạch 57, tay phải 101/61mmHg mạch 53, tôi đưa cho bệnh nhân xem,và nói rằng ông uống Bổ Hư Thang chỉ lên ít, chứng tỏ ông cần phải uống tiếp tục, còn ông sợ nóng chính vì ông thiếu máu và thiếu khí do thiếu tập khí công.

Tôi dùng nhiệt kết bảo bệnh nhân lè lưỡi, bắn máy đo nhiệt cách lưỡi 5cm, nhiệt kết chỉ 38.8 độ C, nên bệnh nhân cảm thấy nóng trong miệng, đo ở trán 37.5 độ, ở bụng 36.6 độ, hai bàn tay 37.1 độ, hai cổ chân nơi huyệt Tam Âm Giao 38.0 độ, như vậy tất cả dương nhiệt trong cơ thể toát ra ngoài, còn đo nhịp mạch đập tuần hoàn máu trong cơ thể thì rất chậm, nhịp mạch có 57 và 52, điều đó chứng tỏ hư hàn trong cơ thể mà giả nhiệt ngoài cơ thể.

Bệnh nhân này người Hoa, bệnh đã hơn 10 năm, đông y và tây y đã chữa không kết qủa bệnh càng ngày càng nặng, đi đứng chân yếu, run rẩy đôi khi bàn tay co cứng, chân cứng không bước đi được, tây y chữa theo loại bệnh Parkinson.

Nếu không nhờ máy đo áp huyết và nhiệt kế, thì các thầy thuốc đông y đã chữa sai, tưởng nhiệt thực cho uống thuốc hàn làm áp huyết tụt thấp, chân tay vô lực, bệnh hư càng thêm hư.

Cách chữa loại bệnh hư hàn giả nhiệt hay hư nhiệt giả hàn thì đúng ra các thầy thuốc phải chữa vào hư hàn là phải dùng chất nhiệt đưa vào trong cơ thể cho cơ thể ấm, hoặc hư nhiệt giả hàn, phải dùng chất hàn đưa vào cơ thể làm cho cơ thể mát.

Nhưng đa số các thầy thuốc khám môi, miệng lưỡi…thấy khô nóng lở tưởng nhiệt, cho thuốc hàn thì mới đầu bệnh nhân thấy dễ chịu, sau khi uống xong thì bệnh nhân lại càng thấy nóng hơn trước. Còn ngược lại, bệnh nhân uống thuốc đúng bệnh là thuốc nóng thì sợ nóng thêm không dám uống.

Cho nên thầy giỏi cũng phải cho uống thuốc nhiệt giả hàn để chữa bệnh hư hàn giả nhiệt, thí dụ cho uống nước gừng có tính nhiệt nhưng bỏ vào tủ lạnh trở thành nưóc mát, bệnh nhân uống qua miệng thấy mát dễ chịu, sau khi vào bụng lại thấy ấm, hay ngược lại, nếu chữa bệnh hư nhiệt giả hàn, thì cho uống hoa cúc, hay hoàng liên có tính hàn nhưng uống với nước nóng đi qua miệng bệnh nhân thấy dễ chịu, sau khi uống vào bụng trong người thấy mát.

Còn phương pháp KCYĐ chữa bằng huyệt để điều chỉnh khí huyết âm dương :

Tôi hướng dẫn người nhà ấn đè huyệt Trung Quản cho khí huyết tụ ở trung tiêu, rồi ấn đè huyệt cho khí huyết chuyển xuống hạ tiêu, khi nào nhìn thấy các ngón chân tự động nhúc nhích đủ 5 ngón chân thì chân mới có lực, khoảng 10 phút các ngón chân trái nhúc nhích đủ cả 5 ngón, còn chân phải mới nhúc nhích được ngón cái và ngón thứ hai, ba ngón còn lại chưa nhúc nhích, thêm 10 phút nữa, 5 ngón chân phải nhúc nhích, còn 5 ngón chân trái nhúc nhích thường xuyên. Khi ấn đè huyệt Khí Hải, máy đo áp huyết vẫn đo thường xuyên ở tay trái, khí khí huyết xuống chân, trán lạnh, áp huyết ở tay xuống thấp 97/57mmHg nhịp tim 54, lại phải ngưng ngay, để đưa khí huyết lên não trở lại bằng huyệt Ế Phong, áp huyết tăng lên 104/59mmHg mạch 58.

Rõ ràng cơ thể rất hàn, tôi phải dùng gối sưởi điện (cousin chauffant) để ở bụng vùng Trung Quản đưa nhiệt độ ở bụng lên 38 độ làm trung tiêu ấm lại và bấm huyệt Ế Phong, đo lại áp huyết lên 110/72mmHg mạch 65.

Dù có bấm huyệt Ế Phong cho áp huyết lên rồi cơ thể vẫn thiếu khí huyết, thiếu nhiệt, áp huyết vẫn thấp, điều đó chứng tỏ cơ thể thiếu máu, vẫn cần Bổ Hư Thang, nhưng dù làm cách nào cũng không tăng nhiệt cho nhịp mạch lên giúp nội tạng đủ điều kiện nhiệt độ cho máu tuần hoàn.

Tôi đo đường có kết qủa 5.8mmol/l, tôi hỏi sáng bệnh nhân đã ăn chưa, bệnh nhân trả lời mới vừa ăn xong 30 phút. Tôi cho biết cơ thể ông không đủ năng lượng, nhiệt lượng, nên chân tay yếu sức, ông cần phải ăn thêm chất ngọt, và chất gừng, tôi sẽ cho ông uống 1 ly trả gừng mật ong. Người nhà nói bệnh nhân sợ gừng làm người cảm thấy nóng lắm, tôi đổi sang trà Đương Quy Táo Đỏ mật ong, pha cho ông 1 gói uống nóng ngay tại chỗ, sau 5 phút thử đường lên 6.5mmol/l, người ông sắc mặt da dẻ trở nên hồng, ông cảm thấy cơ thể ấm áp dễ chịu.

Tôi cho bệnh nhân biết, ông không phải bị bệnh Parkinson, chính cơ thể thiếu đường trong máu, thay vì chích Glucose, thì ông uống sau mỗi bữa ăn 1 gói Trà Đương Quy Táo Đỏ Mật ong, làm tăng đường trong máu, tăng hồng cầu, bổ máu, dưỡng tâm an thần, giữ thân nhiệt đều.

Để tôi chứng minh cho ông thấy, tôi không cần phải chữa chân cho ông để ông đi được nhanh nhẹn dễ dàng, mà chính nhờ cơ thể ông đủ khí huyết, nhiệt độ đều, đủ độ đường trong máu sau khi ăn là 8.0-10.0mmol/l thì ông đi đứng nhanh nhẹn không run rẩy, không mệt mỏi. Tôi sẽ cho ông uống thêm 1 gói nữa. Ông uống xong đường lên 7.5mmol/l. Tôi bảo ông xuống giường đi thử xem, ông đi nhanh như người bình thường, thế là ông đi te te, lên cầu thang không cần vịn thành cầu thang, mặt hồng hào, trán ấm.

Với kinh nghiệm này, nếu không nhờ 3 loại máy khám bệnh, chúng ta cũng sẽ bị định bệnh sai lầm và chữa sai lầm như đông và tây y.

6-Tìm ra nguyên nhân bệnh Parkinson giả :

Một bệnh nhân uống thuốc tri bệnh Parkinson 5-10 năm bệnh càng trở nặng, đi đứng khó khăn, đo áp huyết chỉ hơi thấp so với tiêu chuẩn nhưng nhịp tim đập chậm . So với tuổi 45, áp huyết theo tiêu chuẩn khí công ở tay là :

120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 ,

ở chân lý tưởng nhất :

140-150/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80

Bệnh nhân này có số đo áp huyết :

Tay trái : 120/72mmHg mạch 60, tay phải 115/70mmHg mạch 58

Chân trái : 130/75mmHg mạch 60, chân phải 125/70mmHg mạch 58

Theo kết luận của KCYĐ tay phảì thiếu khí huyết, tay trái lạnh, chân phải yếu hơn chân trái, chân phải lạnh hơn chân trái (58), vì lạnh hơn nên chân cứng hơn.Kiểm chứng bằng nhiệt kế nơi những điểm lạnh ở bàn tay trái, nhiệt kế chỉ Lo, thì thử đường-huyết tại những đầu ngón tay lạnh sẽ thấp hơn nhựng nơi nóng hơn, nhất làn những nơi nào đang có sưng đau do va chạm như ở cùi chỏ, nơi điểm đau nóng thì đường-huyết nơi đó cao, còn cạnh đó chừng 1-2cm, thủ đường-huyết lại thấp hơn nhiều.

Theo định nghĩa bệnh Parkinson của môn KCYĐ, là một bệnh thuộc dây thần kinh, có 3 nguyên nhân : dây thần kinh bị chèn ép tắc nghẽn, hay đứt dây thần kinh, hoặc qúa sung huyết căng thẳng, nên thần kinh giao cảm và vận động không đồng bộ, dấu hiệu tay, bàn tay, hay chân, hoặc đầu cổ lúc nào cũng rung giật, dù có người nắm giữ hay có điểm tựa đặt tay lên bàn, để chân xuống đất cũng vẫn bị rung giật, đó là bệnh Parkinson thực hay đông y xếp vào loại Parkinson thực chứng. Còn những người già lớn tuổi mà hồi xưa Quốc Văn Giáo Khoa Thư có bài Ông Tôi, có câu : ông tôi năm nay 70 tuổi, lưng còng, tóc bạc, tay chân run lẩy bẩy…đó là tình trạng thiếu khí huyết, đi đứng không vững, cầm vật gì cũng không có sức nắm, tay run, đi đứng chân run… tây y vẫn xếp vào loại Parkinson, và chỉ có một loại thuốc chữa trấn an thần kinh không cho run, thực ra những bệnh nhân Parkinson thiếu khí huyếr áp huyết thấp bị rung giật khi tay chân không có điểm tựa, còn khi tay để lên bàn thì hết run, ngược lại với bệnh Parkinson thực chứng, bàn tay dù có để trên bàn cũng vẫn run co giật không kềm chế được.

Còn Parkinson không thực chứng, cũng không hư chứng, vì áp huyết không cao không thấp, có ngày bệnh nhân đi đứng dễ dàng nhanh nhẹn, có ngày chân cứng không nhấc chân được, hay chân mềm nhũn vô lực bước đi thì té ngã, chúng ta phải nghĩ ngay đến cơ thể bệnh nhân thiếu dương khí, không có sức, không có năng lượng, bởi vì đường trong máu thấp.

Những người hôn mê lâu ngày mà không do tai biến mạch máu não, nhưng lúc nào cũng ngủ mê man, như ngủ say không tỉnh, hơi thở đều, yếu, mắt lúc nào cũng nhắm nghiền, không có sức mở mắt ra được, áp huyết khoảng 95-105mmHg. Tây y có 4 loại thuốc cấp cứu cho những bệnh nhân này tỉnh lại :

Chích một mũi thuốc tăng đường (Glucose), nếu cơ thể có lượng đường thấp trong máu.

Chích một mũi Calcium khi cơ thể hàn lạnh có nhịp tim đập qúa chậm, máu không tuần hoàn nhanh làm suy tim.

Chích một mũi B12 khi thần kinh suy nhược.

Chích một mũi vitamin C, khi cơ thể bị sung huyết não do nhiệt làm máu đặc không tuần hoàn, thì vit.C làm loãng máu hạ thân nhiệt.

Trường hợp bệnh nhân trên, bệnh Parkinson do thiếu đường, muốn biết điều đó phải kiểm chứng bằng máy đo đường. Tôi hỏi bệnh nhân sáng đã ăn gì, bệnh nhân cho biết đã ăn bánh mì, cà phê cách nay 1 giờ. Tôi đo đường có kết qủa 5.4mmol/l, đưa cho bệnh nhân xem, bệnh nhân nói tốt, vì bệnh nhân đang dùng thuốc chữa tiểu đường.

Tôi hỏi, ông bị bệnh Parkinson bao lâu rồi, ông trả lời 5 năm, tôi hỏi ông đã uống thuốc trị tiểu đường bao lâu rồi, ông trả lời 10 năm. Tôi lại hỏi ông có đo đường mỗi sáng không, bao nhiêu. Ông trả lời mỗi sáng trước khi ăn tôi đo được 4.5mmol/l, tôi kiêng đường, sau khi ăn đo được 5.0mmol/l.

Tôi giải thích cho ông nghe, trước khi ăn, một người khỏe mạnh không có bệnh tiểu đường, lượng đường trong máu nằm trong tiêu chuẩn theo công ty dược phẩm Contour ghi trên hộp que thử đường từ 6.6-8.3mmol/l hay 108-149mg/dL, như tôi không có bệnh tiểu đường, sáng tôi đo đường là 6.0mmol/l, sau khi ăn bánh mì cà phê, tôi đo được 12.0mmol/l, sau 4 tiếng đo lại đường xuống 6.5mmol/l.

Một người có bệnh tiểu đường, khi nào sau khi ăn đo đường 10-12mmol/l, sáng ngủ dậy đo đường không xuống hoặc xuống rất ít, vẫn còn ở mức 8.0-10.0 mmol/l thì đó là người ăn đường hay chất ngọt mà không được hấp thụ chuyển hóa ra năng lượng, lúc đó mới gọi là bệnh tiểu đường, ngược lại nếu người thiếu đường trong máu sẽ bị thiếu năng lượng và nhiệt lượng, không đủ đường nuôi cơ bắp tim và các bắp thịt.

Còn nếu dù không ăn đường, mà đo đường vẫn cao hơn tiêu chuẩn, thì đường trong các cơ bắp bị lấy mất vào máu để duy trì sự co bóp của tim, nên các bắp thịt sẽ teo nhẽo dần, vô lực, nên những người bị bệnh tiểu đường ban đầu đều do dư đường không chuyển hóa, người mập mạp, sau 5-10 năm người gầy ốm do lạm dụng thuốc tiểu đường và kiêng không ăn đường, nên lượng đường xuống thấp.

Đa số những người bị bệnh tiểu đường, lạm dụng dùng thuốc hạ đường nên bị mù mắt, tế bào bị hoại tử phải bị lở loét, cưa chân, không phải do đường cao mà do đường qúa thấp, khi đường thấp dưới 3.8mmol/l người mệt mỏi, không sức, hay buồn ngủ mê man thần trí hôn mê, có thể hôn mê sâu vào giấc ngủ ngàn thu, hậu qủa của thiếu đường trong máu ít ai ngờ tới, chứ không phải đường cao mà bị mù mắt hay bị cưa chân.

Đối vơí kinh nghiệm của môn KCYĐ, trường hợp bệnh nhân Parkinson nói trên được uống Trà Gừng mật ong, hay trà Đương Quy Táo Đỏ Mật Ong, hay uống ly nước nóng pha 2 thìa đường, sau 5 phút thử lại đường lên 6.2mmol/l, tôi cho biết với lượng đường trong máu như thế, chưa đủ sức cho ông đi được, tôi cho ông uống tiếp thêm 2 thìa đường với nước nóng, sau 5 phút đo đường lên 7.0mmol/l. Tôi bảo ông xuống giường bước đi xem được không, lúc đó ông bước đi được dễ dàng.

Tôi dặn ông khi thấy dấu hiệu buồn ngủ, mắt nhắm, mệt, chân tay rã rời vô lực, cần đo đường. Trong túi phải có sẵn 2 cục đưòng cube, bỏ ngay vào miệng, để tránh bị té ngã hôn mê, nhờ người nhà đo đường ngay để biết đường trong máu đủ hay thiếu để biết cách câp cứu kịp thời.

doducngoc

April 14, 2014 / khicongydaovn

Buổi chia xẻ của bệnh nhân

Buổi chia xẻ của bệnh nhân
https://www.youtube.com/watch?v=Ds0FNKHho_4

April 14, 2014 / khicongydaovn

Khám để ngừa bị méo miệng liệt mặt và những cách chữa.

Khám để ngừa bị méo miệng liệt mặt và những cách chữa.

Đo nhiệt kế hai bên má, bên sắp bị liệt thì nhiệt kế không chỉ, máy chỉ Lo nhiệt độ thấp máy không bắt được, thì theo lý thuyết đông y, nơi nào có máu chạy thì cơ thể ấm, máu không chạy thì cơ thể chết, như xác chết có máu, nhưng máu không còn chạy toàn thân, còn đây là máu không chạy nơi cục bộ, còn má bên kia có nhiệt dộ, chứng tỏ một bên má máu không lưu thông do co thắt thần kinh ngoại biên do áp huyết bên co thắt qúa cao, hay teo thần kinh ngoại biên do thiếu máu. Dấu hiệu biết trước khoảng vài tháng khi thấy môi, má hay mắt thỉnh thoảng co giật.

Nhờ nhiệt kế chúng ta phát hiện sớm được bệnh méo miệnh liệt mặt.

Những cách chữa :

a-Chữa bằng cách châm nặn máu :

Nhờ lý thuyết này và đo nhiệt kế nơi nào không có độ cứ châm nặn máu ở nhiều điểm, khi châm nặn máu để thông khí, thì khi khí chạy đến đâu máu đi theo đến đó. Sau đó đo nhiệt kế lại 2 bên má sẽ thấy nơi nào cũng có độ bằng nhau.

Sau đó đo áp huyết hai tay, nếu bên nào cao áp huyết thì châm nặn máu 5 đầu ngón tay, ngón chân, bên nào áp huyết thấp, thì bấm kéo huyệt Ế Phong bên áp huyết thấp lên lâu 60 giây, rồi đo lại áp huyết thấy lọt vào tiêu chuẩn thì ngưng, và tập khí công.

Nếu mặt mở không nhắm mắt khép kín lại được, cũng đo nhiệt kết ở Ngư Yêu, Toản Trúc, rồi châm nặn máu, làm thông khí huyết. thông huyết ứ tắc, thư giãn thần kinh gân cơ, cũng sẽ nhắm mắt được, và về nhà cũng chườm muối rang lên 2 huyệt trên và tập mở mắt nhắm mắt.

Nếu áp huyết thấp, không đủ khí huyết lên nuôi đầu, mắt, tập 7 bài đầu khí công, Cúi Ngửa 4 Nhịp đưa máu lên nuôi đầu mặt, mắt.

b-Chữa bằng cách bấm huyệt :

Dùng hai ngón tay cái ấn đề vào hai huyệt Hạ Quan hai bên má, giữ nguyên trong lúc bảo bệnh nhân tập ngáp 10 lần, khi ngáp, để ý miệng méo bên trái, thì ấn huyệt Hạ Quan bên phải cho đau, miệng sẽ trở lại bên phải, ngược lại, miệng méo bên phải, thì bấm huyệt Hạ Quan bên trái cho đau, làm cho bệnh nhân phải đưa miệng sang bên trái. Cứ bấm và bệnh nhân tiếp tục ngáp 10 lần để mình chỉnh dây thần kinh, giống như chỉnh tay lái của một chiếc xe.

c-Hướng dẫn bệnh nhân tự chữa :

Bệnh nhân ngáp 10 lần, nhai 10 lần, cười 10 lần để mình thấy còn méo bên nào, còn bệnh nhân phải để ý, trong lúc tập, ngáp, nhai, cười, có cảm giác điểm nào còn cứng, sượng, đau cho biết, để mình đo nhiệt kết châm nặn máu.

Dặn bệnh nhân về nhà, giã gừng rượu hay rang muối bọc trong vải dầy kaki, chườm lên má, vừa chườm vừa ngáp, nhai, cười, cho thần kinh hàm được thư giãn thông khí huyết.

d-Cách tự chữa ở nhà :

Tập bài Nạp Khí Trung Tiêu 5 lần rồi tập tiếp bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 100 lần làm thông đều khí huyết toàn thân.

Bệnh nhân đứng trước gương, tự dùng hai ngón tay trỏ ấn vào giao điểm của hai khớp hàm trên và hàm dưới mỗi bên má, vừa ấn đè vào hai huyệt đó, vừa tập há miệng lớn ngáp to 10 lần, rồi tập nhai 10 lần, tập cười to 10 lần. Để ý mỗi động tác như cười, nhai hay ngáp, còn méo bên nào, thí dụ còn méo bên trái, thì ấn vào huyệt bên phải cho đau hơn bên trái, thì miệng sẽ chạy về bên phải làm cho miệng cân bằng trở lại. Tập nhiều lần trong ngày, liên tiếp từ ngày này sang ngày khác, đến bao giờ buông tay ra không bấm huyệt, đứng ngáp trước gương, vòng miệng tròn đều là khỏi bệnh.

Mặc dù bệnh đã khỏi, nhưng muốn khỏi nhanh, cần phải giữ đúng cách ăn uống, và theo dõi bệnh bằng máy đo áp huyết, thấy áp huyết lên từ từ mỗi ngày lọt vào đúng tiêu chuẩn theo lứa tuổi là khỏi bệnh. Khi áp huyết xuống, lại tiếp tục uống thuốc bổ máu, để duy trì sức khỏe.

4-Cách chữa bệnh méo miệng liệt mặt đã lâu năm

( Từ mới liệt cho đến 40 năm vẫn chữa được)

Dùng súng đo nhiệt độ bên má liệt, tìm điểm nào nhiệt độ cao nhất, thực chứng, châm nặn máu, điểm nào độ thấp nhất hay máy chỉ Low là nơi đó không có máu đi qua làm tê mất cảm giác, hư chứng, châm nặn cho ra máu mới thông được thần kinh mặt.

Điều chỉnh cơ miệng có 2 đường kinh Vị và Đại Trường.

Hãy thử nghiệm trên người không bệnh để biêt công hiệu của huyệt và đường kinh như sau :

a-Day bấm mạnh cho đau đầu ngón tay trỏ trái, điểm cần bấm đau ở huyệt Thương Dương, sẽ thấy cơ miệng kéo về bên trái. Nếu day bấm đau huyệt Thương Dương đầu ngón tay trỏ bên phải, sẽ thấy cơ miệng kéo về bên phải.

b-Day bấm mạnh đầu ngón chân thứ hai, điểm bấm đau ở huyệt Lệ Đoài. Nếu bấm Lệ Đoài chân phải sẽ thấy cơ miệng kéo về bên phải. Bấm đau bên trái, sẽ thấy cơ miệng kéo về bên trái.

Sau khi kiểm chứng đúng, thì áp dụng trên bệnh nhân theo thứ tự sau :

c-Đo áp huyết xem liệt mặt là thực chứng hay hư chứng :

-Nếu thực chứng phải làm hạ áp huyết bên tay cao bằng cách châm nặn máu 5 đầu ngón tay, nặn máu nhiều ở huyệt Thương Dương và huyệt Lệ Đoài thuộc kinh Vị ở chân phía bên cao áp huyết.
-Nếu cao áp huyết cả hai tay, thì châm nặn máu cả hai bên, và ấn đè huyệt Khí Hải cho đến khi áp huyết xuống.

-Nếu hư chứng phải uống thuốc bổ máu, nhưng tạm thời tập bài Cúi Ngửa 4 Nhịp 20 lần, và bài Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực 30-50 lần để đưa máu lên dầu mặt.

d-Thông đường kinh bằng huyệt :

-Châm nặn máu bằng bút châm tiểu đường để châm nông, chứ không châm sâu sẽ phạm gân, các huyệt Nhân Trung, Hạ Quan, Quyền Liêu, Giáp Xa, Địa Thương, Thừa Tương. Trước khi châm, đo nhiệt kế tại mỗi huyệt thấy nhiệt độ khác nhau, sau khi châm nặn máu, đo lại nhiệt kế trên mỗi huyệt thấy nhiệt độ đều nhau.

-Day bấm Thương Dương và Lệ Đoài cùng bên cơ miệng bị liệt, cùng lúc bảo bệnh nhân cười và ngáp nhiều lần từ 10-50 lần trong lúc vẫn bấm giữ huyệt.

e-Dùng ngón tay cái vuốt 3 đường :

Đường thứ nhất :Từ Nhân Trung đến Giáp Xa, ấn vuốt từ từ tìm cảm giác dưới tay xem điểm nào vấp, sượng, cứng, hỏi bệnh nhân xác nhận có cảm giác nơi nào đau, tê, bì bì không cảm giác, nơi đó là A-thị-huyệt phải châm nặn cho ra máu.

Đường thứ hai từ Địa Thương đến Giáp Xa, tìm A-thị-huyệt châm nặn máu như trên.

Đường thứ ba từ Thừa Tương đến Giáp Xa, tìm A-thị-huyệt châm nặn máu như trên.

f-Cho bệnh nhân thông khí toàn thân bằng bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 100 lần, tùy theo áp huyết cao hay thấp :

-Nếu áp huyết cao thì kéo tốc độ bình thường để ý cho bụng mểm xẹp, làm hạ áp huyết.

-Còn áp huyết thấp không cần để ý bụng xẹp mà can tốc độ nhanh, bơm máu lên mặt làm áp huyết tăng.
-Day Hà Đồ Lạc Thư trên mặt :

(Đánh vào khung google chữ Hà Đồ Lạc Thư| Khí công Y Đạo Đỗ Đức Ngọc) tìm bài Hà Đồ Lạc Thư trên mặt, có hướng dẫn cách chữa.

Vẫn để bệnh nhân nằm ngửa sẽ không nguy hiểm, để xem còn huyệt nào mất cảm giác, huyệt nào còn đau. Nếu day Hà Dồ Lạc Thư ở thế ngồi sẽ nguy hiểm, có khi thực làm thêm thực, hư làm thêm hư, có thể làm tăng áp huyết khi áp huyết đang cao, có thể làm tụt áp huyết khi áp huyết đang thấp.
Những giai đoạn chữa hướng dẫn trên áp dụng 1 tuần liên tục, sau đó bệnh nhân tự chữa bằng cách đứng trước gương, dùng 2 ngón tay cái ấn vào hai bên má, nơi huyệt Hạ Quan, hay chỗ lõm giao điểm khớp của hai xương hàm trên và xương hàm dưới, tập ngáp nhiều lần trước gương mỗi ngày, cho đến khi khớp hàm càng ngày càng mở to thì miệng cũng mở to tròn hết méo thì khỏi bệnh.

-Dùng thuốc thông khí huyết lên đầu mặt, thường dùng chữa bệnh liệt mặt méo miệng, tên là Đại Hoạt Lạc Đan có bán ở tiệm thuốc bắc. Cách dùng :

-Áp huyết thấp, người lạnh, dùng 4 viên sáng, 4 viên tối, lúc mới uống khi thuốc chuyển thì thần kinh mặt, má, hơi bị giựt để thông những nơi còn tắc nghẹt, khi thần kinh mặt thông sẽ hết giựt.
-Áp huyết còn cao, uống mỗi ngày 1-2 viên hơi làm tăng áp huyết, phải tập 2 bài Lễ Phật Trì Danh 15 phút và bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 100 lần.

g-Ngừa bệnh tái phát :

-Uống hết 1 lọ thì ngưng. Thỉnh thoảng mỗi tuần uống 1 lần 1-2 viên để duy trì khí huyết tuần hoàn lên má mặt.

-Mỗi ngày tập 7 bài dầu khí công thông thần kinh đầu mặt.

-Nhớ lúc nào cũng cần phải đo áp huyết 2 tay để theo dõi khí huyết hai bên tay có bị chênh lệch nhiều hay không như bên thực chứng bên hư chứng, để điều chỉnh áp huyết tránh có nguy cơ bị tái phát.
Bên thấp hư chứng phải bấm huyệt Ế Phong bên thấp cho áp huyết tăng cao bằng bên kia. Nếu hai bên đều thấp, bấm cả 2 bên Ế Phong và tập bài Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực, ăn uống thuốc bổ máu, hoặc tiếp tục uống Đại Hoạt Lạc Đan thông khí huyết lên mặt và làm tăng áp huyết.

Đính kèm Sổ Tay Tìm Huyệt :

https://docs.google.com/file/d/0BzTtsb_fw3P0OTY0NTI4NzItYWFiYy00MGQxLWFkYzUtNjZlNDAwN2Y0NTkw/edit?hl=en#

doducngoc

April 13, 2014 / khicongydaovn

Phan Tả Diệp, loại thuốc thần kỳ, làm hạ áp huyết, tẩy độc máu trong gan, chữa các lo ại bệnh viêm gan

(Gửi lại toàn bài, bài trước gửi bị đứt đoạn)

Phan Tả Diệp, loại thuốc thần kỳ, làm hạ áp huyết, tẩy độc máu trong gan, chữa các loại bệnh viêm gan

Lọc máu và tẩy độc cơ thể bằng Trà PHAN TẢ DIỆP

Phân tích công dụng theo Tây y:

Tên khoa học Cassia angustifolia Vahl. Tên tiếng Anh là Senna, tiếng Pháp là folioles de Séné.

Là một lá nhỏ mầu vàng nhạt, vân nâu, có chứa các chất anthranoid tự do, anthraglycosid, glucosenosid A,B, isorhamnetin, kaempferol, phytosterol, saponin, alcol myricic, pinitol, acid hữu cơ, polysaccharide.. Nó có tính khí hàn, vị ngọt đắng, không độc, vào kinh Đại trường dùng tả nhiệt, thông lợi đại tiểu tiện, giải nhiệt độc, thông thực tích đọng trệ trong ruột.

Có tác dụng kích thích tiêu hóa với liều dùng 1-2g/ngày

Có tác dụng nhuận trường với liều thấp 3-4g/ngày chữa táo bón, ăn không tiêu, tích trệ đầy bụng.

Có tác dụng gây xổ với liều 5-7g/ngày gây đau bụng tiêu chảy.

Dịch ngâm Phan Tả Diệp không ảnh hưởng đến bao tử và ruột non, chỉ làm tăng co bóp nhu động ruột già làm nát phân gây đau bụng tiêu chảy do chất gây xổ là sennosid A,B. Anthraglucosid được bài tiết qua nước tiểu và sữa, do đó người mẹ cho con bú mà dùng Phan tả diệp, con cũng bị tiêu chảy.

Có tác dụng kháng khuẩn Bacillus dysenteriae, streptococcus loại A, Enterococcus, bệnh nấm ngoài da.

Đối với những người bị bệnh gan như vàng da, xơ gan, áp xe gan, viêm gan Hepatitis A,B,C,E hay ung thư gan.. sẽ có dấu hiệu chán ăn và khi xét nghiệm chỉ số men gan SGOT và SGPT (serum glutamic oxaloacetic transaminase và serum glutamic pyruvic transaminase) tăng cao hơn bình thường gấp 2-5 lần làm tiêu hủy tế bào gan.

Dấu hiệu khỏi bệnh khi nào thử chỉ số men gan giảm. Tất cả các bệnh gan sau khi uống Phan Tả Diệp với liều cao 12g/lần, ngày uống 2 lần, bỏ Phan Tả Diệp vào 1 ly nước sôi ngâm 30 phút, hay nấu sôi cho thuốc thấm ra trở thành nâu hồng đậm, uống hết 1 lần một ly, vẫn ăn uống bình thường, khi đi cầu ra phân đen lỏng tiêu chảy, tiếp tục uống cho đến khi đi phân dễ dàng và phân không lỏng nát nữa mà trở lại phân dẻo, mầu vàng, thì ngưng. Khi đi thử men gan SGOT, SGPT giảm xuống bình thường thì khỏi bệnh.

Như vậy Phan Tả Diệp cũng còn có tác dụng lọc máu tẩy độc trong gan và tống độc xuống ruột già đẩy ra ngoài, các bệnh sốt do nhiễm khuẩn, nhiễm trùng nhờ uống Phan Tả Diệp để tả nhiệt độc cũng làm lui cơn sốt.

Có tác dụng cầm máu với liều 1g/lần, ngày 3 lần sẽ làm tăng số lượng tiểu cầu, fibrinogen, rút ngắn thời gian đông máu.

Cấm kỵ:

Trường hợp táo bón do thắt cơ ruột viêm ruột gìa, đàn bà có thai, và những người thường có bệnh tiêu chảy không được dùng.Có lợi làm hạ áp huyết, nên người áp huyết thấp, táo bón giả do nhu động ruột yếu liệt không co bóp, thì không được dùng.

Chỉ dùng Phan Tả Diệp khi bụng đã ăn no mà không tiêu, khó đi cầu, nếu bụng trống rỗng mà uống Phan Tả Diệp sẽ vô ích, mà chỉ làm nhu động ruột co bóp khiến bị mót muốn đi cầu nhưng không có phân ra sẽ làm khó chịu.

Chúng ta, bình thường vào cuối tuần tối thứ sáu và tối thứ bảy, mỗi tối ngâm 4g Phan tả diệp vào 1 ly nước sôi trong 30 phút rồi uống như nước trà để nhuận trường xổ độc đi ra hết phân đen thối ứ đọng trong cơ thể khoảng 3-4 lần trong ngày, trước khi đi cầu, bụng hơi đau âm ỉ nhẹ chừng 1-2 phút làm buồn đi cầu, nó có tính chất lọc máu trong gan, tiêu hủy men gan làm hạ thấp chỉ số men gan SGOT, SGPT xuống bình thường tránh được bệnh về gan.

Là một loại trà dùng để nhuận trường và xổ độc an toàn. Khi cơ thể hết độc, khi đi cầu, phân ra sền sệt mầu vàng, không bị tiêu chảy nữa thì ngưng.

Tiệm thuốc bắc nào cũng có bán Phan Tả Diệp 1gói 1 pound bên ngoài có ghi chữ Senna leaf. Còn tiệm thuốc Tây bán Senna Laxative làm thành viên. Trên mạng Google, bạn đánh chữ senna leaf sẽ thấy nhiều nơi bán đủ loại thuốc viên, thuốc gói…tha hồ lựa chọn, và có chỉ dẫn liều lượng cách dùng.

Muốn chữa viêm gan, phải dùng thêm thuốc bổ Ngũ Vị Tử xen kẽ để làm giảm chỉ số men gan xuống mức bình thường mới hết bệnh.

Ngũ Vị Tử (Chinese magnolia vine) (Hạt Cơm Nắm)

Thuốc bổ NGŨ VỊ TỬ

Tên khoa học Schisandra ghinensis Baill., tiếng Anh là Chinese magnolia vine, tiếng Việt là Hạt CơmNắm.

Phân tích công dụng theo Tây y:

Có tác dụng trợ tim, an thần, kích thích hô hấp, điều hòa tuần hoàn huyết, giãn mạch ngoại biên, tăng độ thấm mao mạch sẽ làm giảm áp huyết, làm giảm clorid máu và độ kiềm dự trữ, tăng ít glycogen trong mô, nhưng làm giảm glycogen trong gan, giảm acid lactic trong mô, nhưng làm tăng trong gan, sẽ làm hạ đường trong máu.

Có tác dụng chống độc làm hại gan nhờ chất gomisin A và một lignan có tính kháng khuẩn làm ức chế tăng hoạt độ transaminase gan AST và ALT đẻ ức chế mô bệnh lý của gan trong trường hợp viêm gan.

Chất gomisin A trong Ngũ Vị Tử bảo vệ màng tương của tế bào gan nhưng không làm ức chế sự chế tạo kháng thể, kích thích cytochrom P450 làm tăng tổng hợp protein trong gan, tăng hoạt động các tiểu thể gan để có khả năng giải độc cho cơ thể, chữa được loét bao tử, hen suyễn, dị ứng da và dị ứng loại bỏ những bộ phận cấy ghép.

Phân tích công dụng theo Đông y:

Ngũ Vị Tử có đủ năm vị, ngoài vỏ da có vị ngọt, chua, mặn, hạt có vị cay, đắng, mặn, nhưng chua và mặn nhiều hơn nên có tính thu liễm khí của phổi làm cho khỏi ho, thu liễm thận khí làm cho tinh kiên cố, làm ấm thận, sinh nước miếng chữa được bệnh khát khô họng, làm ấm phổi, tiêu tà nhiệt, chữa được suyễn, thông huyết mạch, bổ khí hòa trung tiêu, chữa tiêu chảy, nôn ói, đau bao tử, giải độc rượu, tiêu thực tích ứ đọng trong cơ thể, bổ tam tiêu.

Ở thượng tiêu làm bổ mạnh phổi, chữa được ho tức ngực, suyễn, cổ khô khát, mồ hôi trộm, sốt, tả lỵ lâu ngày.

Ở trung tiêu điều hòa bổ tỳ vị, ăn không tiêu, không hấp thụ, cơ thể suy nhược mệt mỏi.

Ở hạ tiêu làm bổ mạnh thận, chữa thận hư, liệt dương, di tinh, ù tai, đái dầm. Là một loại thuốc bổ mạnh, không nên uống nhiều làm tăng nhiệt gây táo bón.

Kinh nghiệm lâm sàng Trung Quốc, Ngũ Vị Tử dùng hồi phục sức khỏe bồi bổ sau cơn bệnh, và chữa bệnh lỵ, lậu, cảm lạnh, say sóng, viêm phế quản, hen suyễn.

Ngũ Vị Tử bột, dạng sống chữa ho, dạng sao chế chữa bổ, liều dùng 2-4g/ngày, mỗi ngày 3 lần, pha như trà, hoặc sắc nước uống, có công dụng chữa tỳ thận dương hư đi tiêu chảy, suy nhược cơ thể do thiếu khí, phổi yếu, thiếu máu, mất máu, hen suyễn của người già, hen phế quản, ngừa nhồi máu cơ tim, suy tim, tai biến mạch máu não, chóng mặt, ù tai, mất ngủ, hay quên.

Cấm kỵ :

Những người đang bị cảm sốt cao, phát ban, bị táo bón thực chứng, phân khô cứng thì không dùng được. Thuốc này làm tăng áp huyết.

Thuốc tạo ấm cơ thể, chỉ tốt cho người bị tiêu chảy, người lạnh.

Có lợi cho những người lớn tuổi không có vấn đề táo bón tiêu chảy, dùng Ngũ Vị Tử dùng để bổ trí óc tăng cường và phục hồi trí nhớ, ngăn ngừa bệnh tim mạch, tiểu đường, uống liều 2-4g/ngày vào buổi tối.

Khi cơ thể tăng nhiệt, táo bón phải ngưng vì cơ thể đã dư thừa không cần bổ nữa.

Chữa bệnh gan :

Chữa các bệnh về gan như xơ gan, chai gan, viêm gan A,B,C… ung thư gan..

Tối chẵn thứ 2,4,6, mỗi tối uống 3 viên Phan Tả Diệp (Senna Laxative) để lọc tẩy độc trong gan, làm đi cầu tiêu chảy 2-3 lần, ra phân có độc hôi khắm, mầu xanh đen .

Tối lẻ thứ 3,5,7, mỗi tối uống 5 viên Ngũ Vị Tử, tiệm thuốc bắc có bán (dưới tên Fu Fang Wu Wei Zi Capsules)

Chủ nhật nghỉ uống 1 ngày, để cơ thể tự phục hồi điều chỉnh lại âm dương khí huyết.

Cùng lúc uống hai loại thuốc xen kẽ, phải tập thêm khí côntg bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 200 lần liên tục không nghỉ, mỗi ngày tập 5 lần. Trong 1 tháng đi thử lại kết qủa men gan giảm xuống rõ rệt. Tiếp tục tập khí công duy trì chức năng hoạt động của gan trở lại bình thường.

Thân

doducngoc

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.