Phân biệt lợi hại khác nhau về Điển Quang và Nhân Điện

Phân biệt lợi hại khác nhau về Điển Quang và Nhân Điện

Nhiều người đã email hỏi tôi về vấn đề này đang thịnh hành trong công đồng mạng không biết lợi hay hại khác nhau như thế nào. Tôi xin trình bầy về hai vấn đền này trên quan điểm y học nó tác động thay đổi tốt xấu thế nào đối với sức khỏe qua 3 yếu tố Tinh-Khí-Thần:

A-Về Nhân Điện :

Trong cơ thể mọi người, ai cũng có khí huyết tuần hoàn tạo ra năng lượng bảo vệ cơ thể khi 3 yếu tố Tinh-Khí-Thần đầy đủ, được kiểm chứng bằng máy đo áp huyết, máy đo đường, và máy Masimo đo chỉ số bơm máu ra đầu ngón tay chân.

Kết qủa máy đo áp huyết cho ra 3 con số mà tây y gọi là :

Tâm thu/tâm trương/nhịp tim,

Đổi sang tiêu chuẩn ngành Y Học Bổ Sung gọi là :

Khí lực/lượng máu qua tim/ nồng độ đường trong máu.

Nếu một cơ thể khỏe mạnh thì 3 trị số này phải nằm trong tiêu chuẩn tuổi theo Khí Công Y Đạo :

90-95 (1 tuổi đến 5 tuổi) mạch nhanh không chính xác.

95-100/60-65mmHg, mạch tim đập 60 là áp huyết ở tuổi thiếu nhi.(6 tuổi-12 tuổi)

100-110/60-65mmHg, mạch tim đập 65 là áp huyết ở tuổi thiếu niên (13 tuổi-17 tuổi)

110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi)

120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)

130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)

Thí dụ chúng ta lấy tiêu chuẩn tuổi trung niên :

120-130/70-80mmHg nhịp tim 70-75,

Có nghĩa là khí lực 120-130mmHg là tốt, lượng máu qua tim 70-80mmHg là cơ van tim điều hòa lượng máu qua tim dúng tiêu chuẩn, nhịp tim 70-75 là nồng độ đường trong máu đúng và đủ làm nhịp tim đập đúng tiêu chuẩn không nhanh không chậm, nếu thiếu đường thì máu lạnh tuần hoàn chậm, dư đường trong máu làm máu nóng sẽ tuần hoàn nhanh..

Nhờ vào 3 yếu tố khí lực/ lượng máu tuần hoàn qua tim/ nồng độ đường trong máu trong cơ thể một người đã sẵn có trước khi có tác động thêm năng lượng bên ngoài vào cơ thể bắt buộc nó phải thay đổi xấu hơn hay tốt hơn.

Thầy chữa bệnh bằng Nhân Điện phải biết rõ lý thuyết này, như vậy muốn làm thầy chữa bệnh bằng nhân điện, trước hết thầy phải biết tự chữa cho mình sao cho 3 con số lọt vào tiêu chuẩn như thí dụ của thầy chữa thuộc tuổi trung niên 120-130/70-80mmHg nhịp tim

70-75.

Nhưng từ khi có phong trào chữa bệnh bằng nhân điện, chưa có thầy nào kiểm chứng sức khỏe của mình, và cũng không biết mình cũng đang có bệnh, nên mình đã vô tình truyển bệnh sang cho người khác đã làm thay đổi khí huyết của bệnh nhân, lúc tốt hơn, lúc tệ hơn không được kiểm chứng, và cũng không hiểu gì vế năng lượng mang tính âm dương, truyền năng lượng thế nào là âm dương, truyền thế nào là điện tiếp điện như bình thông nhau, hay điện với từ trường, hay từ trường với từ trường, và mình không có đủ năng lượng tích lũy để truyền năng lượng từ xa, như vậy là tự mình lừa dối mình, sau đó cả thầy chữa và bệnh nhân càng ngày càng nặng thêm, vẫn phải nhờ đến cách chữa của tây y là dùng thuốc hay mổ xẻ.

(Xin xem quyển : Khí Công Y Đạo đã xuất bản ở VN và có bán tại Nhà Sách Tự Lực, California)

Nếu cả thầy thuốc hay bệnh nhân còn tin vào khả năng chữa bệnh bằng nhân điện thì hãy tự mình kiểm chứng bằng 3 máy, máy đo áp huyết, máy đo đường, máy Masimo cho cả thầy chữa và cho cả người bệnh trước và sau khi chữa để so sánh sẽ thấy ngay con số cụ thể chứ không phải cảm nhận hoang tưởng, và từ trước đến nay chưa có ai đem khả năng nhân điện của mình cho ngành y khoa kiểm chứng trong các ca chữa bệnh trong bệnh viện, mà chỉ có viện nghiện cứu năng lượng nhưng chưa nơi đâu có đúc kết nào được ngành y công nhận thành hệ thống chữa bệnh song song với ngành y khoa chính thống.

Duy chỉ có một loại nhân điện nhờ tu tập thiền hay tĩnh tâm để tự chữa bệnh, trong nhà đạo gọi là tu tánh luyện mạng, bên Phật Giáo từ Ấn Dộ truyền sang phía Bắc đến Trung Hoa là tổ thứ 28 Đạt Ma Tổ Sư là sơ tổ, truyền cho ngài Thần Quang là nhị tổ đến lục tổ Huệ Năng.

Tổ Đạt Ma dạy tu tánh tức là học hiểu đạo, triết lý giáo pháp Phật Giáo, luyện mạng tức là tập võ thuật tăng cường nội lực cường thân kiện thể bảo vệ sức khỏe để song tu, hầu đủ sức khỏe không bệnh tật mà hoằng dương đạo pháp, lúc tập võ là luyện khí, lúc thiền là luyện thần, quán tưởng lý nhân qủa duyên khởi làm sao con người khổ, làm sao thoát khổ sanh tử để giải thoát…

Khi phối hợp cả hai trong một ngày tu, vừa ngồi thiền vừa luyện võ mới không đau lựng tê chân mỏi gối, không bị cao áp huyết hay tiểu đường, hay dư cholesterol trong máu, nên đường tu tánh không bị trở ngại vì bệnh hoạn.

Ngày nay chia 2 ngành riêng biệt, có người chỉ tu tánh mà không luyện mạng, còn học võ thuật để cường thân kiện thể mà không muốn tu tánh, nên chư tổ cảnh cáo rằng :

Tu tánh mà không luyện mạng là tu hành bệnh hoạn.

Tu mạng mà không tu tánh thì kiếp kiếp không thành Phật

Như vậy tánh mạng song tu giúp cho con người tự biết thu nạp năng lượng, thì nhân điện của các vị này luôn luôn quân bình nhưng có khả năng thu nhận qua các luân xa để cho người khác mà không ảnh hưởng đến quân bình năng lượng của mình. Những vị này mới chính là thầy dạy cách tu tập để có năng lượng, do đó những tu sĩ Tích Lan cũng từ Phật Giáo bên Ấn Độ truyền xuống phương Nam trở thành Phật Giáo nguyên thủy Nam Tông, và thiền sư Dasira Narada là 1 thiền sư đã truyền phương pháp tu này cho giới cư sĩ để tự tu học, chứ không phải ngài gọi nó là Nhân Điện để truyền dạy chữa bệnh trục lợi, rồi lại bắt ngài phải mang danh là Tổ Sư Nhân Điện, bao nhiêu tội lỗi của những kẻ tham danh trục lợi, có ăn thì mình hưởng, có tội thì Tổ mang họa, chớ thật ra các vị tu sĩ nào theo phương pháp tánh mạng song tu theo Phật Giáo đều trở thành Tổ Sư Nhân Điện được cả.

Nếu những truyền nhân được ngài truyền dạy, những người tu đúng thì phải giữ giới cho tánh sáng tâm khai, thân không uế trược, không tửu sắc, không dâm dục, thân tâm thanh tịnh, đúng theo nguyên tắc tu đạo tánh mạng song tu là Tinh sạch, Khí bền, Thần diệu dụng thì từ ông LMĐ trở xuống đã phạm giới, không còn xứng đáng là học trò của Tổ nữa, do đó năng lượng trong những người này càng uế trược, thì ngành Nhân Điện càng ngày càng bị mang tiếng xấu.

Khi những vị nào tự xưng là Thầy Nhân Điện mở khóa dạy Nhân điện, chúng ta muốn theo học nhưng để tránh bị các thầy không có khả năng mà lửa bịp vụ lợi “bán điện trời lấy tiền” thì trước khi mình ghi tên theo học, qúy vị cứ mạnh dạn nói : Xin qúy thầy cho chúng con thử đo áp huyết và đường cho qúy thầy xem sức khỏe qúy thầy có tốt không, trước khi dạy hay truyền năng lượng cho chúng con.

Tóm lại năng lượng Trường Sinh Nhân Điện ai cũng có tốt hay xấu, tốt đối với các thầy tu chân chính, khổ công tu học, giúp người vô vụ lợi, dạy người tự tu học, tự biết cách chữa bệnh bằng năng lượng do mình thiền định, hít thở, dạy cho người bệnh cũng tự học tự tu luyện để tự chữa bệnh, đó là hạnh nguyện của các vị tổ đang thực hiện hạnh nguyện bồ tát, phương pháp của các ngài lại bị lợi dụng cách này để buôn bán trao đổi bằng tiến bạc, để cho các tà thần mượn xác đưa điện ô trược vào cơ thể những luồng năng lượng tham, sân, si, ái dục, để sau này linh hồn mình bị qủy thần sử dụng làm tay sai làm loạn trật tự thế gian.

B-Về Điển Quang :

Điển quang cũng là một dạng năng lương có nhiều tần số khác nhau gọi chung là năng lượng vũ trụ, nhưng thật ra theo Phật Giáo và khoa học thì không gian có nhiều giải ngân hà, nhiều qủa địa cầu khác nhau, nên Phật mới nói có tam thiên đại thiên thế giới, nhưng những cõi thế giới tiếp cận với con người theo Phật Giáo có nhiều cõi, cõi gần nhầt là lục đạo luân hồi, thâp nhất là cõi Địa ngục, Súc Sanh, Nga Qủy. A tu La, cõi Nhân Thiên (cõi người và cõi trời) vì những chúng sanh trong cõi này còn tái sanh. Những cõi cao hơn không tái sanh mà do hạnh nguyện vào lục đạo độ đời sau khi tu học tiến hóa cao hơn, thấp thì tính từ hàng bồ tát, trên bậc A La Hán, qua thập địa bồ tát đến bồ tát bổ xứ thành Phật.

Những người khi chết thành thần nằm trong cõi A Tu La, có thần thông, tính thẳng thắn trung trực, trung hiết tiết nghĩa có công với đất nước được phong làm thần nhưng còn sân giận, ăn mặn, sát sanh, từ cấp này họ có năng lượng siêu hình, năng lượng này cao hơn nhân điện có thể tác động vào con người qua luân xa xâm nhập vào thân-khẩu-ý của mình, người ta gọi là Điển.

Trong cõi người, lúc còn sống nhờ tu luyện lên tứ thiền thành bậc A la Hán cũng có điển, có thần thông.

Trong cỏi thiên là nơi các bậc thánh tiên ở, cũng thường hay giáng phàm bằng luồng điển muợn qua 1 thân người, qua thân-khẩu-ý khi ta thức, hay hiện bằng hình ảnh trước mặt ta khi ta ngủ hay khi ngồi thiền định hoặc hiện bằng hào quang, hay giáng cơ bút…..tùy theo tần số và trình độ tâm linh của mỗi người khác nhau, hay một nhóm người cùng trình độ tu học cùng một tần số, nên có người này thấy nghe được còn người khác không thấy không nghe được…trong những loại điển này có nhiều tần số khác nhau, thanh nhẹ hay nặng trược phù hợp với những căn cơ mỗi người khác nhau, nếu ta không làm chủ được tâm ta để phân biệt tốt xấu đúng sai mà nhận những vị này làm thầy thì mình sẽ đi theo con đường của họ, để thực hiện ý định của họ trở thành tà đạo.

Ở cơ thể con người, trên một vị trí luân xa, lớp ngoài là luân xa Phách được khai mở thì thân thể khỏe mạnh không bệnh tật, lớp sâu bên trong là luân xa Vía, làm cho thân thể cử động linh hoạt, nhanh nhẹn tuổi già hóa trẻ, luân xa cao hơn là luân xa Trí được khai mở thì trí óc sáng suốt, thông minh.

Nhựng người do công phu tu tập, tâm tốt mới có luân xa trí phát triển sẽ được thanh điển của các vị thầy đến chỉ dạy trong lúc ngủ, hay thiền định thông qua những cách truyền năng lượng qua thân-khẩu-ý, như về thân thì tay chân cử động bắt ấn, qua miệng tự nhiên đọc chú, qua ý nêu những thắc mắc câu hỏi trong đầu tự nhiên có câu trả lời làm mình được khai ngộ…

Thí dụ như tôi làm thầy chữa thân bệnh tâm bệnh có hạnh nguyện cứu độ người vô vụ lợi, căn cơ thiện lành biết tu tánh luyện mạng, được nhận những năng lượng siêu hình chỉ dạy qua luân xa Trí. Nếu khi tôi có một giấc ngủ sâu như vào đại định gặp chân sư để tiếp tục học đạo cứu người ở một cảnh giới khác cao hơn, khi học xong trở về nhập vào thân xác thì mới biết mình không còn thân do gia đình đã chôn mất thân xác thì thân vía và thân ý vẫn còn ở cảnh giới thiên, muốn tiếp tục giữ hạnh nguyện cứu đời, sẽ lại tìm những người thầy chữa bệnh từ thiện nào đó trong cõi ta bà này để độ cho họ bằng cách dạy cho họ trong những giấc mơ, hay truyền năng lượng cho họ khi họ chữa bệnh, …đó cũng là một loại điển.

Phật giáo chỉ dạy cho ta biết có nhiều cõi, nhiều cảnh giới khác nhau, nhưng 3 cõi gần con người và hay tiếp xúc với con người bằng điển là cõi Dục Giới (ham muốn của thân), Cõi Sắc Giới (ham muốn của cảnh, của Ỳ), và cõi Vô Sắc Giới (không còn ham muốn của thân của ý). Còn những vị tu cao vượt ra khỏi tam giới để tu thành Phật thì mình không có cơ hội để gặp thì dễ gì mình gặp Phật nếu không phải là người tu đắc đạo.

Như vậy trong cõi nhân-thiên có nhiều thánh thần mà con người có duyên gặp rất nhiều luồng điển xấu tốt tùy theo căn cơ tu học hay không tu học, ăn chay thanh tịnh và giữ ngũ giới hay không, nên có điển thanh, điển trược.

Nhân điện của ông LMĐ từ Tổ Dasira Narada là 1 tu sĩ Phật Giáo, ngài tu thiền định, luồng năng lượng ngài có do năng lượng chư Phật ban cho, ngài phải cầu Phật, quán tưởng Phật niệm hồng danh chư Phật, và ngài cũng dạy cho những đệ tử của ngài tu theo Phật, niệm Phật, quán Phật, cầu Phật, nên có lúc năng lượng của ông LMĐ mạnh nhất làm cho những học viên bị tê liệt theo học 1 khóa là khỏi bệnh đi đứng bình thường, sau này vì tham danh lợi và thần thông đã tà thần xâm nhập vô tình thu nhận điển trược cùng tần số tham sân si của các vị thần Ai Cập mới dạy khóa Bộ Óc Người Tiền Sử và Kim Tự Tháp, không phải là giáo lý nhân qủa của Phật, bỏ đạo Phật, nên học trò cũng lại không theo Phật, cho nên các học trò hễ thiếu năng lượng thì lại xúi dại nhau cầu Thầy LMĐ truyền năng lượng hay cầu Sư Tổ truyền năng lượng. Sư Tổ hay thầy LMĐ làm sao cho học trò năng lượng bằng điển quang của chư Phật, mà tại sao không cầu thẳng chư Phật có hơn không ?

Thật ra thiền sư Dasira Narada đã vượt tam giới đâu còn trong tam giới mà giúp cho những kẻ phàm phu còn tham sân si ái dục cầu ngài cho năng lượng, cho nên thờ ngài là để làm bình phong trục lợi mà thôi, những người đã tạo nhân xấu sau này sẽ gặt qủa xấu là lẽ đương nhiên không liên quan đến Sư Tổ.

Giống như cả một tập thể cầu ơn trên chữa bệnh ở một số trung tâm, thầy hay bệnh nhân đọc những câu thần chú mật tông, thế là tầt cả như có luồng điển xâm nhập vào thân-khẩu-ý khiến cho mọi người quơ chân múa tay lễ lạy đi quyền múa võ…. thì đấy cũng là năng lượng cõi vô hình của các chư vị hộ pháp, vì do lời nguyện của chư thần này đã quy y theo Phật, họ nguyện rằng những ai niệm danh hiệu Phật sẽ theo hộ pháp cho những người này để họ tu không bị trở ngại, nên chúng ta thấy trong những pháp hội khi Phật thuyết giảng kinh, đều có các chư thiên đến hộ pháp và họ cho những mật khẩu riêng của họ để cho mình cầu là họ đến, rồi đến các vị bồ tát cũng thương xót chúng sinh, muốn độ cho chúng sinh không bị trở ngại trên đường tu, các ngài cũng cho những mật khẩu riêng của các ngài, thí dụ Bồ Tát Quán Thế Âm cho bài chú cầu ngài là Án Ma Ni Bát Di Hồng (ummanipadmehum)…nhưng không có câu chú mật tông nào đọc lên mà được tất cả chư Phật và các chư hộ pháp đến trợ giúp nhiều nhất bằng danh hiệu A Di Đà Phật là vua của chư Phật.

Như vậy mục đích cầu ơn trên giúp mình khỏi bệnh bằng năng lượng của các chư thần truyền cho để cho có sức khỏe tu tiếp, chứ không phải tài năng của thầy chữa bệnh có năng lượng truyền cho mình biết múa may quay cuồng như thế. Nhưng nếu ông thầy tham danh lợi muốn có năng lượng thần thông như thế mà không chịu tu theo chánh đạo thì các vị hộ pháp bỏ đi và sẽ bị các tà thần đến trợ giúp thần thông cho mình câu chú mà mình chẳng hiểu nghĩa, cứ đọc lên là có hiệu nghiệm, giống như quyền năng của ông LMĐ sau này đã có trong việc trồng cây, làm ra gạo nhân điện, vô tình mình bán linh hồn mình và học trò mình cho qủy Satan kết thành một tập thể hùng mạnh đi phá những kẻ tu hành, làm rối loạn kỷ cương xã hội, giống như thời kỳ phong thần, các vị tà thần xuống thế gian phá phách thì lại có những vị chánh thần xuống thế cứu dân dẹp loạn

Các Trung Tâm treo hình hay tượng của Tổ Sư, lại thỉnh những tượng Phật, mà những người đến không hề muốn tu học hay được tu học niệm Phật, họ chỉ xem là những ông thần linh thiêng ban ơn giúp cho mình khỏi bệnh nên đến xá xá vài cái rồi được thầy chữa bệnh mang danh điển quang, thì chỉ có những người si mê, còn mê tín dị đoan mới đến mà thôi, và khi các vị chánh thần bỏ đi, các vị tà thần đến, mọi người thấy nơi đó vẫn linh thiệng nhưng thật ra nơi này đã trở thành tà đạo vì bản thân người lãnh đạo không hề biết tu giữ giới, giữ thân tâm thanh tịnh thì làm gì có thanh điển mà chỉ có trược điển lại gọi là điển quang thì phạm tội vọng ngữ dối gạt người..

Điển quang là một loại năng lượng của chư Phật gồm âm thanh, ánh sáng, mầu sắc, trước khi mình thấy hiện tượng điển quang này thì tất các các chư hô pháp đã có mặt hiện diện nơi đó, chúng ta sẽ thấy nơi đó quy tụ những người hiền tài đạo đức người tập hợp, khi tất cả cùng nhau tu tập nếu ban đêm người ta sẽ thấy có vùng hào quang tỏa sáng lên. Ngược lại, tự nhiên những người hiền tài bỏ đi, mà nơi đó vẫn linh thiêng thì đã có tà thần đến trấn ngự dành cho những người không biết tu hành là gì, chỉ biết tham-sân-si, aí dục, phạm giới rủ nhau tụ đến mà thôi, thì nơi này biến thành mê tín dị đoan..

Để phân biệt được nơi linh thiêng nào là chánh đạo hay tà đạo thì hãy xem xét đạo đức của người tổ chức có tu hành nghiêm túc, có ăn chay, giữ giới, phát tâm hạnh nguyện bồ tát vô vụ lợi hay không.

Riêng về đạo ông bà thì thờ cha Trời, mẹ Đất, người cao nhất là ông Trời cai quản thế gian chỉ ở 2 cõi dục giới, sắc giới, còn mẹ đất sanh đẻ và nuôi dưỡng mọi vật trong đó có con người, có thuyết cho rằng đó là Phật Mẫu Diêu Trì, mọi con người từ người tu đã đắc đạo cho đến kẻ phàm phu cũng đều là con của Phật Mẫu, nhưng Phật Mẫu lại dưới quyền con của ngài là vị Phật tương lai Di Lặc, mà Phật Di Lạc là vị bồ tát bổ xứ lại thuộc bậc dưới của các vị cổ Phật, trong số các vị cổ Phật mỗi vị chủ quản một phuơng nên gọi là 10 phương chư Phật, thì chỉ có cõi Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà là vua của chư Phật, ai niệm danh hiệu A Di Đà Phật thì được 10 phương chư Phật gia hộ, nên chỉ một danh hiệu A Di Đà Phật kinh sách đã nói là vua của các chú mật tông, vua của các kinh, vua của các chư Phật, nơi nào có tu học trì niệm danh hiệu ngài thỉ nơi đó không có tà thần hay điển trược nào dám đến quấy phá, và nơi đó chỉ chấp nhận những vị tu chân chính hiền tài đức độ đến tụ họp mà thôi..

Sở dĩ tôi viết bài này để qúy vị hiểu việc cầu ơn trên chữa bệnh chỉ là phương tiện mà các thanh điển của các vị hộ pháp trợ giúp cho người tu hành thời mạt pháp được khỏe mạnh không làm trở ngại đường tu của mình.

Vậy nơi nào dùng chữa bệnh bằng điển trược thì nơi đó chỉ là tà đạo quy tụ những người cùng tần số, tổ chức những buổi kỷ niệm giỗ tổ này tổ nọ để có cớ ăn nhậu phạm giới cấm thì mình không nên đến để khỏi bị trở thành lính của nhóm tà thần thi triển pháp thuật thần thông làm rối loạn trật tự xã hội. Những nơi này không bao giờ có điển thanh của các chư thiên hộ pháp huống chi là điển quang.

Bài viết này cũng được thanh điển trợ giúp để qúy vị phân biệt chánh tà.

Nam Mô A Di Đà Phật

Huệ Tâm Hải

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s