KHÁM BỆNH THEO ÂM-DƯƠNG BẰNG MÁY ĐO ÁP HUYẾT (tiếp theo)

3-KHÁM BỆNH NGOẠI TÀ LỤC DÂM VÀ NỘI TÀ DO ĂN UỐNG BẰNG MÁY ĐO ÁP HUYẾT.

Chúng ta đã biết dùng máy đo áp huyết để biết lực co bóp thức ăn, phần trăm chuyển hóa thức ăn và phần trăm hấp thụ thức ăn thành máu.

Còn đây là cách khám bệnh do ngoại tà hay nội tà làm xáo trộn âm dương khí huyết như thế nào để phân biệt, mới biết cách chữa đúng.

Áp huyết đo tay trái để tìm bệnh do ăn uống sai hay đúng, nếu ăn sai làm ra bệnh gọi là do nội tà .

Áp huyết đo tay phải thuộc gan là phong ảnh hưởng do thời tiết lục dâm bên ngoài xâm nhập vào cơ thể cũng là do phong là gió xâm nhập vào lỗ chân lông như phong hàn, phong nhiệt, phong thấp, trúng thử (trúng nắng), sẽ làm thay đổi áp huyết bên tay phải.

A-Bênh lục dâm làm thay đổi áp huyết bên tay phải từ nhẹ thuộc Biểu chứng đến nặng thuộc Lý chứng :

Tuy nhiên, đông y phân biệt bệnh lục dâm, có nghiã 6 khí do thời tiết như : khí phong, hàn, thử (nắng), thấp, táo (hanh khô), nhiệt oi bức, thừa cơ xâm nhập vào cơ thể, gọi chung là lục tà hay tà khí hay ngoại tà, lúc mới xâm nhập thì còn ở ngoài da, thuộc biểu bì, ở lớp Khí phần nên gọi là bệnh còn ở Biểu, sẽ có dấu hiệu của biểu chứng như sốt, cảm, ho……sốt thì nhịp tim tăng thành mạch Sác, ra mồ hôi, như đổ mồ hôi là mất âm số tâm trương giảm, nhưng cơ thể mất năng lượng lại bị thiếu đường, hay ngược lại là cảm hàn không ra mồ hôi, rét lạnh….rét lạnh thì mạch trì, không ra mồ hôi thì âm không mất, hàn tà thì làm giảm khí lực tâm thu, lạnh thì mất nhiệt lượng là giảm đường-huyết…

Khi bệnh để lâu không chữa khỏi thì tà khí xâm nhập vào sâu bên trong là Bán biểu, Bán lý, rồi nặng nữa gọi là tà khí nhập vào Lý, là vào đến máu thuộc huyết phần khiến máu bị nhiễm trùng, áp huyết sẽ thay đổi khác nhau, khi so với tiếu chuẩn tuổi, chúng ta sẽ thấy được dương tăng hay giảm bao nhiêu %, âm tăng hay giảm %.

B-Bệnh nội tà do thức ăn thuộc lý chứng làm thay đổ áp huyết bên tay trái nhiều hơn tay phải :

Thức ăn sẽ ảnh hưởng ngay đến khí lực, huyết lực và nhịp tim ngay tức khắc, nếu tốt thì giữ áp huyết lọt vào tiêu chuẩn, dư thừa thì có thức ăn hay thuốc uống sai bệnh, làm tăng hay giảm khi, có thức ăn hay thuốc uống làm tăng hay mất máu, có thức ăn làm tăng hay giảm đường làm tăng hay giảm nhịp tim.

Do đó cần phải dùng máy đo áp huyết theo dõi thức ăn hay thuốc uống đúng hay sai trước và sau khi ăn để luôn giữ áp huyết được quân bình âm dương hòa hợp trong tiêu chuẩn. Với lý do cơ thể muốn khỏe mạnh luôn giữ cho quân bình âm-dương quân bình hòa hợp, nên không bao giờ đông y phải dùng thuốc suốt đời sẽ gây ra trạng thái mất quân bình âm-dương cho cơ thể.

Nhớ rằng thức ăn cũng là thuốc, nên thay đổi thức ăn hay thuốc đều làm áp huyết thay đổi tốt hay xấu. Bất cứ thứ gì vào bao tử cũng đều là thuốc, thuốc đến từ thức ăn, từ thuốc, do đó tránh bị trùng lấp như uống thuốc làm hạ đường thì đường huyết đã hạ lại còn kiêng ăn đường làm đường đã hạ thêm lần thứ hai, lại ăn những thức ăn làm hạ đường như chất chua, làm cơ thể mất đường 3 lần khiến đường-huyết xuống thấp mà vẫn phải uống thuốc suốt đời khiến cơ thể mất đường là mất âm hại thần kinh điều khiển chức năng khí hóa, làm yếu tế bào sẽ gây ra ung thư hoặc thấp đường đột ngột khiến co rút thần kinh gân cơ, tắc nghẽn tuần hoàn máu lên não gây hôn mê…

Thuốc áp huyết cũng vậy, thuốc uống đã làm hạ áp huyết lần thứ nhất, ăn thức ăn làm hạ áp huyết thêm lần thứ hai, lại tập khí công làm hạ áp huyết thêm lần thứ ba, làm áp huyết xuống thấp thêm mà không theo dõi bằng máy đo áp huyết, đến nỗi áp huyết đã lọt vào tiêu chuẩn khỏe, lại trở thành mất thêm âm, mất thêm dương, áp huyết xuống thấp gây ra bệnh, mà không được bỏ thuốc.

Có khi uống thuốc làm hạ áp huyết tốt, lại ăn những thức ăm làm tăng áp huyết như nhãn, xoài, sầu riêng, cam thảo trong thuốc Malox chữa bệnh bao tử, khô mực, trái hồng, lẩu đồ biển, ăn nhiều, uống nhiều thuốc bổ như bổ máu, thuốc chữa phong thấp đau nhức, uống nhiều thuốc bổ xương ….những thứ này làm tăng áp huyết. mà không biết kiểm chứng bằng máy đo áp huyết để thấy áp huyết bị tăng lên dần, lại không thắc mắc tại sao uống thuốc hạ áp huyết mà áp huyết không xuống, để gây ra biến chứng tai biến mạch máu não hay đột qụy thì đã muộn…

Nhất là cao áp huyết hay đột qụy thường xẩy ra sau những bữa ăn thịnh soạn, sau bữa tiệc tối làm áp huyết tăng về đêm do thức ăn không tiêu, mà không đo áp huyết kiểm chứng sau khi ăn 30 phút để thấy rõ thức ăn góp phần làm thay đổi áp huyết bất ngờ.

Ngược lại, sự xáo trộn áp huyết từ trung bình lọt vào tiêu chuẩn đến thấp dần mất khí lực đã gây ra yếu sức, nhiều biến chứng, lại mất huyết lực gây ra thiếu máu tạo thêm nhiều biến chứng khác, nhìn thấy được sự thay đổi áp huyết càng ngày càng xấu hơn theo cách giải thích của đông y như trên, thì rỏ ràng lợn lành chữa thành lợn què ….

Do đó, chúng ta cần phải biết thế nào là xáo trộn khí hóa ngũ hành tạng phủ khi được theo dõi kiểm chứng bằng máy đo áp huyết mỗi ngày.

Ngay trong qúa trình trị liệu bệnh ung thư của tây y, không linh động, mà chữa theo máy móc, ung thư là cơ thể qúa suy nhược thiếu khí (dương), thiếu máu (âm) làm áp huyết thấp, vong âm, vong dương, thiếu khí là không còn sức, thiếu máu làm tế bào khỏe thành tế bào bệnh hay chết, nên chúng ta cần phải kiểm chứng áp huyết trước khi chữa, và sau khi chữa hóa-xạ-trị xem cách chữa có làm cho khí huyết được quân bình hay không, tiến triển tốt hay xấu, tốt thì tiếp tục điều trị theo liệu trình, xấu thì phải ngưng ngay đừng để xấu thêm. nhưng tây y không kiểm chứng tình trạng âm-dương khí-huyết, mà chữa theo một liệu trình không thay đổi mà không biết sai hay đúng, có phù hợp với tình trạng khí-huyết của bệnh nhân hay không, phải xong một liệu trình mời xét nghiệm máu, thấy bệnh chuyển biến nặng hơn thì điều chỉnh âm-dương khí-huyết không còn kịp làm bệnh nhân chết không do tế bào ung thư mà biến chứng mất thêm khí-huyết gây đau đớn, khó thở, mệt, không ăn không ngủ suy nhược thần kinh, tế bào mạnh cũng chết dần cho đến khi tế bào toàn thân không hoạt động, tây y gọi là di căn chờ ngày tế bào không còn năng lượng như đèn hết dầu phụt tắt.

Đã có nhũng bệnh nhân chờ 3 tuần chết do di căn toàn thân, tôi bảo bệnh nhân đã chấp nhận chết thì đừng lo sợ, cứ uống thuốc bổ máu, bổ đường, tập khí công cho áp huyết tăng lên, may ra sống sót…họ áp dụng đến hơn 1 tháng mà không thấy chết lại thấy khỏe hơn, hồ sơ tây đã khóa lại, đó là lý do tại sao tây y chê là một may mắn cho bệnh nhân được lựa chọn theo các phương pháp khác .

4-TÌNH TRẠNG XÁO TRỘN KHÍ HÓA TRÊN KINH MẠCH :

Ngoài việc khán bệnh bằng Quy Kinh Chẩn Pháp, bằng du huyệt, bằng âm dương khí-huyết, bằng biểu-lỳ hư-thực, hàn nhiệt, được hiện ra con số rõ ràng là kết qủa của máy đo áp huyết và máy đo đường.

Chữa bệnh theo đông y cũng phải quy về đường kinh nào bệnh theo ngũ hành, và mỗi bệnh của mỗi đường kinh có những dâu hiệu triệu chứng riêng. Tuy nhiên khi bệnh có 1 kinh bệnh, có 2 kinh bệnh, 3 kinh bệnh, nhiều kinh bệnh khác nhau, như kinh này bệnh còn ở biểu (bên ngoài da lớp Khí phần), kinh khác bệnh trong lý ảnh hưởng đến máu trong huyết-phần, như do thức ăn, hay do ngoại tà chữa không khỏi để tà khí lấn dần sâu vào trong huyết phần làm hại máu nhiễm trùng, mất máu.

Thí dụ bệnh ở 3 đường kinh, phải dựa vào dấu hiệu bệnh đang xẩy ra sẽ tìm được chính kinh bệnh phù hợp với xét đoán bằng mạch, bằng nguyên huyệt của đường kinh.

Có khi chứng bệnh lại không phù hợp với bệnh của đường kinh, lúc đó thầy đông y phải chọn chữa vào chứng bệnh trước mà bỏ không theo mạch là chữa ngọn giải quyết cấp tính không cho lan truyền kinh, lúc đó chứng chỉ là phụ, chữa theo mạch là gốc. Tại sao ?

Vì bệnh diễn tiến mỗi lúc mỗi khác, chưa tìm gốc bệnh ở đường kinh nào, nhưng bệnh đang phát triển làm tăng áp huyết hay giảm áp huyết qúa nhanh làm Tinh-Khí-Thần xáo trộn hàng ngày, phải dựa theo Tinh-khí-thần là khí lực, huyết lực, nhịp tim và đường để ổn định áp huyết, làm sao cho tinh là thức ăn làm ổn định khí lực, huyết lực, thiếu đường phải bổ sung đường, dư đường phải tập khí công làm hạ đường, nhưng chọn bài làm tăng hay giảm áp huyết cho khí lực phù hợp với cơ thể thì bệnh sẽ thuyên giảm mau lành. Nếu không phù hợp bệnh sẽ nặng thêm.

Trường hợp này hay gặp ở những bệnh ung thư mà tây y chữa ngọn diệt tế bào ung thư mà không theo dõi ổn định áp huyết, nên bệnh không lành gây biến chứng của thuốc làm mất khí mất huyết, gọi là vong cả âm là mất máu, vong cả dương là mất khí lực, mất oxy thì bệnh nhân chết không phải do tế bào ung thư phát triển mà mất khí mất huyết các tế bào lành chết theo, tế bào chức năng cũng chết theo, không thở được, không ăn được, đau không ngủ được, không tiêu hóa hấp thụ được, như ngọn đèn hết dầu chờ tắt mà không cần phải tế bào ung thư phát triển thì bệnh nhân cũng đã chết.

Tất cả các bệnh cần cơ thể vận động giúp cho kinh mạch huyệt đạo, khí huyêt lưu thông. Thần là tinh thần ổn định, tâm lý ổn định vững vàng, lạc quan, tin tưởng, vui vẻ, yêu đời, không buồn thở dài, bi quan, chán nản, lo sợ, giận hờn, oán trách…vì thần có thể làm cho bệnh trở nặng thêm, có thể làm cho bệnh nặng hóa nhẹ. Nếu biết điều chỉnh Tinh-Khí-Thần hòa hợp bằng thức ăn là thuốc, bằng tạp luyện khí công, thì bệnh mỗi ngày mỗi thuyên giảm. Còn Tinh-Khí-Thần bất ổn, như tinh lại không muốn ăn, khí thì không muốn tập, như vậy là ngũ hành âm dương tạng phủ mất quân bình hòa hợp bệnh sẽ nặng thêm.

Thí dụ bệnh dư âm thiếu dương, gọi là ăn nhiều lười tập, áp huyết như 110/100mmHg khí lực 110mmHg là dương thiếu, huyết lực 100mmHg là dư máu, mỡ… cần phải ăn chất tăng dương, uống thuốc nào để phục hồi dương, tinh thần phải lạc quan vui vẻ, phải tập vận động để tăng dương khí để chuyển hóa âm cho quân bình. Nhưng vì chúng ta không hiểu quy luật quân bình âm dương theo Tinh-Khí-Thần hòa hợp, phó mặc cho thầy thuốc chữa bệnh bằng thuốc chỉ đạt được ½ kết qủa là Tinh, còn ½ kết qủa nhờ vào thức ăn uống, lại ăn uống sai lầm làm cho thuốc mất công hiệu. Còn khí thì không biết giải huyệt, hoặc châm huyệt không đúng huyệt điều chỉnh, vì trước và sau khi châm không theo dõi áp huyết để so sánh kết qủa dùng huyệt đúng hay sai, còn chữa bằng luyện tập khí công cũng không theo dõi kết qủa áp huyết để so sánh trước và sau khi tập xem bài tập luyện đó có chữa được bệnh đúng hay không. Còn thần thì chán nản, lo sợ, buông xuôi, làm cho tinh-khí-thần tan rã.

Chữa bệnh bằng khí công phải chú trọng đến yếu tố tinh-khí-thần lúc nào cũng phải hòa hợp được kiểm chứng bằng máy đo áp huyết và máy đo đường.

Những dấu hiệu xáo trộn sự khí hóa của tạng phủ được xếp theo thứ tự ngũ hành để tiện lý luận biện chứng tìm nguyên nhân gốc bệnh mới quyết định hư thì bổ, thực thì tả trên chính kinh bệnh hư thì bổ rồi bổ thêm đường kinh mẹ. Nếu chính kinh có dấu hiệu bệnh thực đo bằng máy đo áp huyết thì tả chính kinh và tả kinh con của chính kinh.

Cách tìm nguyên nhân gốc bệnh dựa vào 3 yếu tố Tinh-Khí-Thần thể hiện trên dấu hiệu triệu chứng lâm sàng của đường kinh, cho nên nhờ vào kinh nghiệm của đông y cổ xưa lưu truyền lại đã trải nghiệm từ nhiều đời, được đúc kết như dưới đây, chúng ta có thể biết tình trạng bệnh, và diễn tiến của bệnh đang ở giai đoạn nào, đến kinh nào, tạng phủ nào, tiếp theo sẽ chuyển bệnh ra sao để biết cách phòng bệnh.

5-KINH NGHIỆM DẤU HIỆU TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG HỌC THEO ÂM-DƯƠNG NGŨ HÀNH :

A-BỆNH THUỘC HỎA

HỎA thuộc mùa hè.

Đặc tính của Hỏa : mang hỏa khí, nhiệt, hợp với vị đắng, có mùi khét, chủ huyết và mạch, khai khiếu ở lưỡi, tạo dịch chất, mồ hôi, tâm ưa vui cười, thích hợp mầu đỏ.

Bệnh thuộc hỏa, gồm tiểu trường, Tâm, Tâm bào và Tam tiêu .

Bệnh chứng chung :

Nếu hỏa thực : làm đau đầu, mình nóng nẩy, tâm không yên, không muốn nằm, kém ăn, đại tiện khó.

Nếu hỏa hư : sợ lạnh, hô hấp yếu, chân tay lạnh, kiết lỵ.

Bệnh chứng của kinh Tiểu Trường :

Đau cuống họng cạnh hàm, vùng huyệt Giáp Xa sưng, cổ vai đau không quay đầu ra sau được, cơ bắp sau cánh tay nhức, nặng thì vai đau như gẫy, mình nóng ớn lạnh, dộp miệng, tai điếc.

a-Cơ sở vật chất của Ruột non :

Chứa đựng thức ăn từ bao tử xuống làm phận sự rút chất bổ vào máu, loại cặn bã xuống ruột già.

Khi ruột non có bệnh sẽ không tiêu hóa chuyển hóa thức ăn thành chất bổ mà đưa thẳng xuống ruột già đi ra ngoài còn nguyên cả thức ăn, đi tiểu ít, ngắn, bí tiểu, tiểu ra máu, ra máu sau đại tiện, đau bụng dưới, ban đêm bụng nóng đến sáng thì ngưng nóng.

b-Bệnh tiểu trường thực chứng :

Mình nóng ra mồ hôi, đau bụng dưới, bứt rứt, lở nhọt ở miệng, sưng cổ cứng đơ.

c-Tiểu trường thực + nhiệt do tâm nhiệt :

Lòng phiền táo, bụng và rốn đầy cứng, trung tiện được thì dễ chịu, tiểu đỏ rít, đau ống dẫn tiểu. Lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, bìa lưỡi và đầu lưỡi đỏ.

d-Tiểu trường hư :

Đau nửa đầu sau tai, điếc, mắt vàng.

e-Tiểu trường hư + hàn do tâm hỏa hư :

Bụng dưới đau thích xoa nắn, đại tiện chảy lỏng sống sít, tiểu lắt nhắt không thông do hư, tiểu nước trong do hàn.

Rêu lưỡi đỏ nhạt do hư, rêu lưỡi trắng mỏng do hàn.

f-Tiểu trường trướng khí :

Làm đau vùng bụng rốn, eo lưng và xương sống, đau dịch hoàn, phát nóng ớn lạnh, bí đại tiện. Rêu lưỡi trắng.

Bệnh chứng của Tâm kinh :

Đau trong tim ngực, hông sườn đầy đau, khô họng nói không được, lòng bức rứt nóng nẩy, bắp thịt trước cánh tay đau nhức hoặc nóng lạnh, lòng bàn tay nóng hâm hấp, đau tới vai, lưng, khuỷu tay, lưỡi cứng, mặt đỏ, da nóng, sợ lạnh, mắt vàng.

a-Cơ sở tạng tâm :

Tâm tàng thần, là quân hỏa, còn Tâm bào là tướng hỏa, chủ huyết, chủ nói năng, mồ hôi, vui cười.

Khi Tâm bệnh :

Các chứng nóng sốt, kinh sợ, động kinh, nghi hoặc, xây xẩm tối tăm mặt mày, cười khóc nói lăng nhăng lảm nhảm huyên thuyên, hay quên, hồi hộp, tự ra mồ hôi, các bệnh ngoài da đau ngứa ghẻ lở, eczema chàm, zona dời ăn do máu có độc.

c-Tâm thực :

Làm tinh thần rối loạn, điên, cười nói lảm nhảm, nóng nẩy, bực tức, động kinh, mình nóng, họng khô, đại tiểu tiện khó, bao tử căng tức, chân tay nặng nề, tăng áp huyết, đầu nóng, nhức đầu, Khi bị viêm nhiễm nặng làm tâm mê sảng, mặt đỏ, lưỡi khô, họng khát, chảy máu cam ra mũi, ra miệng, đau ngực, tiểu vàng đỏ. Khi nhiễm độc thần kinh sẽ đi tiểu ra máu, hoành cách mô căng tức đầy do khí đẩy lên rất khó chịu làm khó thở.

d-Tâm hư :

Làm tim hồi hộp sợ sệt, làm việc một tí thì mệt thở dốc, mộng mị lung tung, hay giật mình, ngủ hay bị thức giấc khiếp sợ, hay quên, sức khỏe giảm dần do không đủ tâm hỏa chuyển hóa thức ăn. Mặt mất sắc, mầu nhạt, ngực lưng tự xuất mồ hôi, tinh thần suy nhược, thiếu máu, gai gai sốt, chân tay giá lạnh.

Tâm hư nặng thì bất thình lình hoa mắt té ngã, trán xuất mồ hôi lạnh, chân tay rũ liệt, tụt áp huyết hay áp huyết bị thấp qúa gây ra chứng bại liệt xuội chân tay vô lực.

e-Tâm hàn :

Nói mê sảng, cứng ngọng lưỡi, cứng tay chân, huyết hư, thần mất, thần kinh suy nhược.

Hàn làm tắc khí thì huyết sẽ sinh đàm làm khí bị uất (ứ đọng dồn vào một chỗ), uất ở đầu làm mất ngủ, uất ở mắt làm nhức mắt, uất ở bụng làm làm băng lậu, huyết trắng, lãnh cảm ở phụ nữ, bất lực ở đàn ông.

Nếu do hàn tà ở thận tràn lên sẽ làm đáy tim nờ lớn làm đau tim ngực làm uạ mửa, miệng lở, bàn tay nóng dữ do âm hư hỏa vượng.

f-Tâm nhiệt :

Do tâm hỏa thịnh lồng ngực căng bứt rứt nóng nẩy không ngủ được, miệng khô họng khát, lưỡi đỏ tươi hoặc có mụn lấm tấm ở lưỡi, tiểu đỏ rít, đau các đốt xương, đau tim ngực, đau sườn ngực do đàm hỏa tích tụ, mặt đỏ phừng phừng áp huyết tăng cao hơn tiêu chuẩn nhiều.

Nóng nhiều qúa làm tổn thương kinh lạc sinh thổ huyết (ói ra máu), da bị nóng sinh ra mụn nhọt ghẻ chốc sưng đỏ đau.

Tâm nhiệt truyền xuống tiểu trường sinh ra giun sán quấy phá.

g-Tâm thực + nhiệt :

Trong ngực khô nóng, ho khan, ho rặn đỏ mặt tía tai, phiền khát, da khô, tiểu không thông, tiểu đỏ rít, mặt và da đỏ, nổi mụn, chung quanh mũi đỏ. Lưỡi đỏ. Đẩu lưỡi đỏ sậm, có mụn ở lưỡi do nhiệt tà ở gan truyền sang.

Bệnh chứng của kinh Tâm Bào :

Nóng truyền vào Tâm bào phần nhiều do ngoại cảm nhiệt xâm nhập bởi ngoại tà, hoặc nội tà do đàm làm tắc hệ thống ống dẫn máu không lưu thông được làm rối loạn thần kinh, trí óc mê mờ ngớ ngẩn, nóng về đêm bứt rứt không ngủ được, tinh thần hôn mê, nói xàm như say như tỉnh, áp lực động mạch tĩnh mạch căng cứng, cứng nhượng chân.

Tâm bào liên quan đến tam tiêu, tắc thượng tiêu làm rối loạn áp huyết, thần kinh.

Tắc trung tiêu làm trở ngại tiêu hóa.

Tắc hạ tiêu làm táo bón, đau cứng đầu gối, đi lảo đảo.

a-Tâm bào thực :

Đau màng bao tim, tim, động mạch, tĩnh mạch căng to, mặt đỏ, sưng nách, đau tức sườn ngực, co quắp cánh tay và bàn tay, ngón tay cứng đau.

b-Tâm bào hư :

Bứt rứt nóng nẩy do máu huyết tuần hoàn không thông làm loạn nhịp đập của tim, thỉnh thoảng mất nhịp, tim hồi hộp do tim thỉnh thoảng phải đập mạnh để thúc đẩy nhịp đập để đẩy máu lưu thông, lòng bàn tay nóng.

Bệnh của Tâm và Tâm Bào liên quan đến áp huyết, thần kinh, hở van tim, hẹp van tim, sung huyết não, nhũn não, tê liệt, mất trí nhớ, thiểu năng động mạch vành, nhồi máu cơ tim, suy tim, tim thòng, hoại tử, ứ huyết, ung thư, nhiễm trùng….

Bệnh chứng của kinh Tam Tiêu :

KinhTam tiêu , cơ sở vật chất là các hệ thống ống mạch từ tâm bào dẫn máu bao quanh khắp tạng phủ, xương, tủy óc, gân cơ, da thịt…bao gồm động mạch, tĩnh mạch, lưới mao mạch, hệ thần kinh khắp toàn thân…

Về chức năng hệ thống tam tiêu là vừa dẫn khí vừa dẫn huyết, dẫn giao cảm, vận động, phản xạ hưng phấn hay ức chề của thần kinh liên lạc hai chiều từ tạng phủ này đến tạng phủ khác dẫn truyền về thần kinh trung ương với nhiệm vụ điều chỉnh âm dương ngũ hành tạng phủ được quân bình hòa hợp, nó nối với các đường kinh của tạng phủ qua nguyên huyệt…cho nên bệnh của tam tiêu là bệnh của các ống mạch và các dây thần kinh.

Khi bị bệnh, cơ sở vật chất của nó bị nghẹt do khí huyết tụ, đàm tụ, máu trong các ống dẫn bị nhiệt, bị hàn.

Về chức năng của khí là dư khí, thiếu khí, nghịch khí, bị tà khí làm hại, nên chức năng dẫn khí huyết không được thuận lợi thông suốt đi khắp toàn thân.

Bệnh của chính kinh Tam tiêu đơn giản, nên trên kinh mạch Tam Tiêu chỉ có 23 huyệt dùng để sơ khí hóa, giải uất, giải nhiệt, thanh nhiệt, hóa đàm, thông khiếu, giáng hỏa nghịch, khí nghịch, tán ứ kết của chính đường kinh Tam Tiêu.

Về chi tiết, tại sao kinh tam tiêu bị bệnh là phải xét đến bệnh của từng vùng có các dấu hiệu bệnh của từng tạng phủ như :

Thượng tiêu bệnh do phế, tâm và tâm bào

Trung tiêu bệnh do gan, mật, bao tử, lá lách

Hạ tiêu do ruột, thận, bàng quang

Khi chữa phải tìm dấu hiệu bệnh do tạng phủ nào gây ra có liên quan đến kinh Tam Tiêu.

Kinh Tam tiêu sử dụng quyền của tướng hỏa phân bố nguyên khí của Mệnh Môn, thống lãnh phần khí-huyết của tạng phủ đi khắp kinh lạc nuôi dưỡng, bảo vệ, điều hòa cơ thể khắp ba vùng thưọng-trung-hạ tiêu, mỗi vùng có một nhiệm vụ riêng như : thượng tiêu chủ nạp khí, trung tiêu chủ hóa khí huyết, hạ tiêu chủ xuất thải cặn bã và độc tố.

a-Tam Tiêu chính kinh bị bệnh :

Gây ra các chứng nóng sốt, mắt mờ, gân co rút, giật như bệnh Parkinson đầu lắc, chân tay co giật, câm điếc, rối loạn thần kinh, kinh sợ điên cuồng, tràn huyết làm sung huyết não, làm tăng cao áp huyết, khí nghịch thuợng xung, các bệnh ngoài da như ghẻ lở có mủ, nổi hạch.

b-Tam tiêu do kinh khác làm bệnh :

Sợ lạnh, run lập cập, mất thần, tai ù điếc, tê đầu, tê hầu họng, khuỷu tay sưng đau, ngón tay út và áp út tê không cử động được.

c-Tam tiêu nhiệt :

Nhiệt ở thượng tiêu :

Làm ngực đầy như suyễn, thở vào khó hơn thở ra, uạ mửa nước chua, đau tức sườn ngực, ăn nuốt không vào, ra mồ hôi đầu trán.

Nhiệt ở trung tiêu :

Hay đói, ăn nhiều mà vẫn gầy ốm, da thịt teo, tiêu chảy, bụng trướng gõ vào kêu như trống.

Nhiệt ở hạ tiêu :

Tiêu chảy, phân lẫn nước vẩn đục lợn cợn, bụng như phù thủng, đi tiểu từng giọt không thông, đại tiện bón hoặc kiết lỵ.

d-Tam tiêu hàn :

Hàn ở thượng tiêu :

Ăn bị ói mửa ra lẫn đàm nhớt, đau tức từ trước ngực ra sau lưng.

Hàn ở trung tiêu :

Ăn uống không tiêu, mửa ra nước, lạnh bụng, nặng bụng, tiêu chảy, không khát nước.

Ở hạ tiêu :

Ở hạ tiêu bị bế hãm không chủ xuất thải cặn bã và độc tố được, rốn bụng lạnh, đau bụng sán lãi, đại tiểu tiện không thông, làm đau bụng dưới ngấm ngầm, khó thở tức bụng.

e-Tam tiêu thực :

Làm sưng viêm họng, thanh quản, hạch cổ, đau sau tai, đau khóe mắt, đầu mặt nóng đỏ, ra mồ hôi, ù tai, bụng dưới đầy cứng.

f-Tam tiêu hư :

Thiếu khí Vinh-vệ,(khí nuôi đưỡng, khí bảo vệ), hô hấp yếu, thượng tiêu không nạp đủ khí, trung tiêu không chuyển hóa làm bụng lạnh, hạ tiêu chủ xuất yếu làm bón giả vì phân lỏng mà không có lực co bóp đẩy ra.

Bệnh chứng khí-huyết, vinh-vệ của kinh Tam tiêu.

Kinh Tam tiêu chủ nạp khí, hóa huyết, chuyển thành khí huyết nuôi dưỡng tế bào, nuôi dưỡng tạng phủ gọi là Vinh khí, và tạo ra khí huyết nuôi dưỡng khí bảo vệ cơ thể chống bệnh tật gọi là Vệ khí, cho nên khi xét đến bệnh chứng của tam tiêu phải xét đến tình trạng khí, tình trạng huyết dẫn trong ống mạch, mà chúng ta được thấy rõ bằng máy đo áp huyết cho ra kết qủa 3 số đo là khí lực bảo vệ tuần hoàn cơ thể, huyết lực là lượng máu nuôi dưỡng tế bào, cả 2 số khí lực là vệ khí, huyết lực là vinh khí, khí huyết hòa hợp là nhịp tim. Do đó bệnh chứng có dấu hiệu riêng của phần khí, phần huyết.

Bệnh chứng phần KHÍ Tam tiêu (dương) :

a-Do tà khí lục dâm (thời tiết) :

Gọi là ngoại tà, từ phần vệ khí ngoài da xâm nhập vào phần khí như phong nhiệt, thử khí (trúng nắng) sẽ có dấu hiệu bệnh như phát nóng nhiều, sợ nóng mà không sợ lạnh, ra mồ hôi, miệng khát nuớc, rêu lưỡi từ trắng hồng trở thành vàng dầy, mạch Phù+Sác. Nếu tà nhiệt vào thượng tiêu nơi hông ngực làm tức đầy ngực, tâm buồn phiền bứt rứt, uạ mửa. Hay phong hàn làm cơ thể run lạnh cảm lạnh sợ lạnh…

b-Do ăn uống gọi là nội tà vào bao tử :

Nếu nhiệt phát sinh do ăn uống, hoặc nhiệt tà từ phần vệ vào trường vị làm bụng đầy đau tức, trướng, bí đại tiện hoặc són, hậu môn nóng đỏ, mê man nói xàm, tiểu đỏ rít, mạch Sác+Thực.

c-Khí hư :

Khí thượng tiêu hư :

Do phế khí hư có dấu hiệu thở ngắn, suyễn, nói yếu không có sức, tự xuất mồ hôi.

Khí trung tiêu hư :

Do trường vị có dấu hiệu bụng đau thích xoa nắn, ấn, không muốn ăn, đại tiện lỏng, chân tay lạnh buốt.

Khí hạ tiêu hư :

Do nguyên khí tại thận hư có dấu hiệu dương hư, ở hai má nổi mầu đỏ nhạt lẫn trắng, tai ù điếc, choáng váng đầu, hồi hộp, thở không đều, bàn tay nóng.

d-Khí thực :

Khí thượng tiêu thực :

Do phế khí thực làm tức ngực, xây xẩm, đàm nhiều, hơi nghẹt thở, nằm không yên, luôn há miệng co rút vai.

Khí trung tiêu thực :

Do vị khí thực thì vùng trung quản đầy tức, muốn ói, ụa mửa, nấc cục, ợ hơi hôi thối, nuốt chua do thức ăn sinh chua, bực bội. Làm tăng áp huyết bên tay trái.

Do can khí thực làm nhức đầu, mờ mắt, tăng áp huyết bên tay phải, đặc biệt là tăng nhãn áp.

Khí hạ tiêu thực:

Do ruột đầy làm bụng trướng, đau quanh rốn, bón, kiết đàm có mầu đỏ trắng, nếu triều nhiệt thì nói xàm.

Bệnh chứng phần HUYẾT tam tiêu (âm) :

a-Do ngoại tà :

Huyết bị nóng làm sắc lưỡi đỏ thẫm, nếu đỏ tía mầu đậm là nguy kịch, trong máu thiếu oxy trầm trọng như sốt xuất huyết. Nhiệt bên trong hoặc tà nhiệt ngoại tà như thời tiết, môi trường nhiễm trùng như bệnh thời đại như Ebola…truyền qua phần vệ khí vao khí phần rồi vào huyết phần làm huyết tăng nhiệt và áp lực khí dồn lên đầu, đo áp huyết tăng cao cả 3 số tâm thu khí lực, tâm trương huyết lực và nhịp tim đập nhanh Phù+Thực+Sác bên ngoài da nổi đỏ, ban chẩn, thổ huyết, máu cam, đi tiêu tiểu ra máu, ngày nóng ít, đêm nóng nhiều, mê sảng nói xàm, nặng thì phát cuồng, nhiệt cực thì sinh phong, như nóng qúa nuớc biển bốc hơi mạnh sinh ra gió, huyết nhiệt tức âm hư thành mất máu, gặp phong thì động khiến áp huyết tăng nhanh đột ngột, chân tay co rút co quắp, hôn mê gọi là trúng phong bất tỉnh kéo dài (coma) hoặc tê liệt tai biến mạch máu não.

b-Do huyết hư : (âm hư)

Có các dấu hiệu dễ thấy :

Tân dịch : Hao tổn tân dịch do đổ mồ hôi trộm

Mắt : trắng dã không có máu

Môi : khô, nứt nẻ, nhạt không có sắc hồng.

Thần : suy nhược, mệt mỏi, bứt rứt, mất ngủ, đêm nóng.

Thân : Gân, thịt máy động giật, nặng thì chân tay rút giật thành bệnh Parkinson hư chứng..

c-Do huyết thực (âm thực) :

Huyết thực làm ứ tắc đóng cục, làm bầm tím trong ngoài cơ thể :

Ở da : cục bộ bị bầm, sưng, sốt, đau, nổi gân xanh.

Ở kinh lạc : Đau mình, gân co rút Parkinson thực chứng, tim nóng, lưỡi thâm.

Ở thượng tiêu : Huyết tắc làm đau tức vùng hông, ngực, vai, tay như dao đâm.

Ở trung tiêu : Huyết tắc làm gò thắt đau giữa bụng.

Ở hạ tiêu : Huyết tắc một chỗ nhất định làm đau nhức như kim đâm ở bụng dưới làm nổi hòn cục, bướu (khối ung thư) đè vào đau nếu chỗ huyết bầm tắc làm thông được sẽ tan theo phân ra ngoài thì phân có mầu đen, có độc, lưỡi nổi chấm tím.

Bệnh chứng phần VINH-KHÍ :

Chất bổ dinh dưỡng từ thức ăn nuôi cơ thể gọi chung là huyết-dịch khi bị hàn sẽ hóa đàm (giống như nước đang chảy khi nhiệt độ thấp lạnh sẽ đông thành nước đá). Khi bị nhiệt xâm phạm thì hóa thành hỏa đàm khô đặc vàng, cả hai loại đàm làm tắc tuần hoàn tam tiêu khiến tâm thần rối loạn, bứt rứt chẳng an, nóng nhiều về đêm không ngủ được, tinh thần hôn mê nói xàm.

Nếu bệnh ngoài da sẽ nỗi hột như ban chẩn, eczema (chàm), dời ăn (zona), lưỡi đỏ sậm.

Bệnh chứng phần VỆ-KHÍ :

Vệ khí làm ấm áp cơ thể, bảo vệ sự hoạt động của các tế bào phòng chống bệnh qua các hạch tuyến, hệ miễn nhiễm, hệ nội tiết điều chỉnh các loại hormone, các dịch chất, loại bỏ các độc tố xâm nhập từ ngoài hay do tự phát sinh trong môi trường thấp nhiệt, thấp hàn trong tạng phủ.

Khi vệ khí bệnh sinh nóng sốt, sưng hạch, ớn lạnh, nhức đầu, mệt mỏi, rêu lưỡi mỏng hoặc có nổi điểm trắng.

Nếu do thời tiết lục dâm xâm nhập qua da, vệ khí yếu làm lỗ chân lông mở lớn khiến cơ thể ớn lạnh. Nếu vệ khí mạnh thì lỗ chân lông tự khép chặt lục dâm không thể xâm nhập.

Khi vệ khí đuổi được tà khí bên trong ra thì lỗ chân lông mở cho mồ hôi độc xuất ra rồi lỗ chân lông tự đóng lại, nếu mở ra mà không đóng lại là vệ khí yếu.

Nếu tà khí vào sâu bên trong tạng phủ, vệ khí mạnh không đẩy tà khí ra da, thì đẩy tả khí xuống hạ tiêu để loại độc tố ra theo đường tiêu, tiểu, nhưng nếu vệ khí yếu thì hạ tiêu sẽ bị sưng hạch ở bụng ở háng.

Muốn giúp vệ khí mạnh phòng chống, chữa bệnh đuổi tà khi ra khỏi cơ thể không gì tốt hơn là áp dụng 3 bài tập khí công căn bản làm mạnh thượng tiêu bảo vệ da : Bài Vỗ Tay 4 Nhịp 200 lần, bảo vệ trung tiêu chống huyết ứ, tập bài Kéo Ép Gối Thổi mạnh hơi ra làm mềm bụng 300 lần, làm mạnh hạ tiêu tan bướu bằng bài Nạp Khí Trung Tiêu 5 lần.

Thân

doducngoc

(còn tiếp đông y cao cấp)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s