KHÁM BỆNH THEO ÂM-DƯƠNG BẰNG MÁY ĐO ÁP HUYẾT

KHÁM BỆNH THEO ÂM-DƯƠNG BẰNG MÁY ĐO ÁP HUYẾT

1-QUY LUẬT QUÂN BÌNH ÂM DƯƠNG :

Đông y tượng trưng Âm-Dương là một vòng tròn lưỡng nghi, 50% là âm, 50% là dương, dó là âm dương quân bình hòa hợp 100%, đối với thiên nhiên là Thủy-Hỏa, thủy tượng trưng cho ¾ nước biển trên qủa địa cầu, hỏa tượng trưng cho sức nóng mặt trời, đối với thiên nhiên, sự tương tác giữa thủy-hỏa tạo ra sự khí hóa biến đổi thời tiết, môi trường sống. Đối với sự sống trong người là sự khí hóa của 2 yếu tố Khí là dương và Huyết là âm.

Khí hóa tạo ra sự sống, nhưng muốn duy trì được sự sống thì sự khí hóa phải theo một quy luật gọi là luật khí hóa phải có thêm hai yếu tố “ âm trong dương” và “dương trong âm” làm cho âm dương chuyển động để khí hóa, được biểu tượng bằng vòng tròn tứ tượng, từ đó sinh ra bát quái ngũ hành.

Đới với thiên nhiên :

Mặt trời là dương. Nước biển là âm. Sức nóng mặt trời chiếu xuống biển làm mặt nước nóng lên (là dương trong âm), tuỳ theo sự tác động ít hay nhiều, mạnh hay yếu, mà tạo ra gió, ra sóng, bốc hơi nước, làm thay đổi áp suất không khí…làm thủy triều xuống…..Khi nước bốc hơi thành mây là trong dương trên bầu trời đã có mây là âm trong dương để giảm bớt sức nóng của mặt trời cầm giữ cho nước khỏi bốc hơi nhiều, cây cỏ khỏi bị cháy khô vì hạn hán, sau đó mây tụ lại thành mưa trả lại nước cho biển làm thủy triều lên, mưa làm mùa màng cây cỏ tốt tươi, không khí mát mẻ, tẩy rửa những ô nhiễm môi trường và những cặn bã ra biển, để rồi lại tiếp tục khí hóa liên tục theo thời gian ngày, tháng, năm, đều đặn để nuôi dưỡng thiên nhiên và sự sống cho muôn loài vạn vật.

Đối với con người :

Sự cấu trúc tự nhiên trên da thịt, trong cơ thể con người cũng theo quy luật khí hóa tự động, trong âm có dương, trong dương có âm.

Trên da phần cứng thuộc dương như đầu, gáy, lưng, mông là dương, nhưng dưới mông, bắp chân là phần mềm thì lại là âm, như vậy là trong dương có âm,

Phía trước như mặt từ cổ, ngực, bụng phần mềm là âm, nhưng xuống đùi, ống chân là dương, như vậy là trong âm có dương.

Dương tượng trưng cho hơi thở, cho khí lực co bóp tạng phủ chuyển động trong người, khí không thấy được nhưng đo được bằng máy đo áp suất, máy đo dung tích phổi, và tạo ra nhiệt.

Âm thì lạnh, là chất nhìn thấy được, tượng trưng cho máu, nước, dịch chất, đàm, cholesterol….

Bên ngoài phía da thịt là dương, bên trong cơ thể là âm. Thay vì ngoài da phải nóng, trong cơ thể phài lạnh, nhưng để quân bình nên ngoài dương có âm là máu chạy ra đến da nên da thịt mát mẻ, trong cơ thể là âm có dương là khí chuyển động trong tạng phủ để quân bình làm cơ thể ấm.

A-Dấu hiệu kinh nghiệm bệnh chứng của Âm-Dương theo Mạch :

Khi cơ thể bệnh là mất quân bình âm dương, nên 2 yếu tố quan trọng để chẩn đoán bệnh là âm (máu) và dương (khí) như :

1-Âm thằng thì dương bệnh.

Âm thịnh thì trong lạnh. Dương hư thì ngoài da lạnh. Bệnh âm thịnh dương suy thì phải bổ dương thông âm chứ không phải tả âm.

Những bệnh âm thắng dương như :

Đau bụng tiêu chảy, lưỡi trắng, rêu lưỡi ướt, mạch Trầm, Trì. Mạch Trì là hàn, mạch Trầm làm đau. Lưỡi trắng rêu ướt là âm thịnh, tiêu chảy là dư âm, không đủ dương.

2-Dương thắng thì âm bệnh :

Dương thịnh thì ngoài da nóng. Âm hư thì trong nóng.

Bệnh dương thịnh âm suy phải tả dương để ức chế dương và bổ âm để quân bình. Thí dụ như sốt cao, miệng khát nước, lưỡi đỏ, rêu khô ráo, mạch Hồng, Đại.

Sốt cao lưỡi đỏ mạch hồng đại là dương thịnh nhiệt, miệng khát lưỡi khô là thiếu nước do âm hư.

3-Âm hư triều nhiệt :

Âm hư sinh nội nhiệt (bên trong thiếu âm thủy, thiếu máu), âm trong dương hư không đủ ức chế dương, nên nhiệt ngoài vào tạng.

Hai loại nhiệt hội lại gọi là triều nhiệt.

Dương khí có dư thì mình nóng không có mồ hôi. Mồ hôi, máu, nước, dịch chất trong cơ thể thuộc âm. Âm hư thủy cạn như hạn hán do đó mồ hôi không ra là để duy trì lại âm. Nếu chữa sai cho tả ra mồ hôi làm mất âm gọi là vong âm.

Nếu đêm ngủ ra mồ hôi hay ban ngày ra mồ hôi trộm cũng sẽ làm vong âm hoặc sẽ bị viêm gan làm vàng da (hoàng hãn).

Bệnh âm hư triều nhiệt phải bổ âm, (bổ máu, nước), thanh dương (làm mát).

Thí dụ bệnh có các dấu hiệu sau : Lưỡi đỏ, ít tân dịch (miệng khô khát), không rêu, má đỏ, môi hồng, tâm phiền nhiệt, ho, ra mồ hôi trộm.

Lưỡi đỏ, má đỏ, môi hồng là tâm phiền nhiệt, là dương hỏa thịnh vào tâm, phế, tỳ (lưỡi, má, môi), phổi khô thành ho, lưỡi ít tân dịch không rêu là âm hư, ra mồ hôi trộm cũng là âm hư thiếu thủy, lại bị mất nước qua đường mồ hôi thì âm càng mất, dương hỏa càng lấn vào trong.

4-Dương thịnh triều nhiệt :

Dương trong dương ngoài đều thịnh, dương ngoài thịnh thì mình nóng, dương trong thịnh thì khí nghịch, âm không ức chế được dương trong, tức là âm cũng suy mới sinh nội nhiệt.

Muốn quân bình phải tả dương để ức chế dương, tồn âm.

Thí dụ có dấu hiệu bệnh như :

Suyễn mãn tính phiền táo, bí đại tiện, cuồng loạn nói xàm, rêu lưỡi vàng mọc gai, mạch Trầm có lực.

Suyễn mãn là do khí nghịch đầy phổi làm thở vào ít, ngắn, cuồng loạn nói xàm là phản ứng tự nhiên để làm bớt khí nghịch, bí đại tiện là âm thiếu, dương hỏa thịnh làm phân khô cứng khó ra, rêu lưỡi vàng là nhiệt vào tỳ vị, truyền bệnh cho phổi, mạch Trầm hữu lực là khí huyết bị bế tắc uất kết ở trong.

5-Vong âm vì âm qúa hư, dương thịnh :

Âm hư làm mồ hôi ra như tắm, không dính, vừa nóng vừa mặn, da nóng, chân tay ấm, sợ nóng bên ngoài làm cơ thể nóng thêm, miệng khát thích uống nước mát nhiều để cơ thể được quân bình, hơi thở to, lưỡi đỏ khô, mạch Hồng, Thực.

Muốn quân bình phải thanh tâm, liễm phế, chỉ hạn. Mồ hôi nóng mặn là ờ tâm ra nên phải làm mát tâm, muốn chỉ hạn là cầm mồ hôi không cho ra nữa phải đóng lỗ chân lông lại gọi là liễm phế khí. Đối với khí công tập bài Nạp Khí Trung Tiêu và b63 phế bằng bài tập Vỗ Tay 4 Nhịp để đóng lỗ chân lông giữ cho mồ hôi không ra và chữa được bệnh ra mồ hôi tay.

6-Vong dương do dương suy vì hàn lạnh :

Dương hư tự hãn, khi mất dương, mồ hôi ra như tắm, vừa lạnh, vừa dính nhớt, chân tay mát lạnh, sợ lạnh, miệng không khát, lưỡi ướt nhạt mầu, hơi thở yếu, mạch Vi, Tế.

Tự ra mồ hôi làm dương khí kiệt quệ, Mệnh Môn hỏa suy, nước thận thủy tràn lên, nếu mồ hôi cứ ra thì dương khí hết gọi là vong dương..

Muốn quân bình phải cho thận khí giáng xuống hạ tiêu dẫn hỏa khí Mệnh Môn đi xuống thì mồ hôi ngưng ra. Nếu tả cho âm thoát thì dương tuyệt, ngược lại phải hồi dương liễm âm, bổ chân hỏa là Mệnh Môn (dùng ngải cứu hơ Mệnh Môn, Khí Hải).

7-Chân âm bất túc :

Là chức năng chuyển hóa của thận thủy hư, âm hư sinh nội nhiệt gọi là hư hỏa theo Mệnh Môn lên làm cho mặt đỏ, môi đỏ như son, miệng lưỡi khô đỏ, không rêu, lòng phiền muộn, xây xẩm, ù tai…chân yếu, đau trong xương, ra mồ hôi, ác mộng, tiểu tiện bí, lòng bàn tay chân nóng, mạch Sác, Vi, Tế.

Tai ù liên quan đến thận, miệng lưỡi họng khô đỏ là thiếu thủy do thủy hư, tâm hỏa xuống Mệnh Môn để khí hóa thận thủy, thủy không có, hỏa khí của Mệnh Môn sẽ đi lên ức chế tâm làm tâm nóng thêm sinh ra phiền muộn, tâm truyền sang tỳ làm tỳ nhiệt nên môi đỏ như son, hỏa hại phế làm ra mồ hôi, hỏa hại tâm làm ra ác mộng, hỏa đốt khô thủy làm xương đau nhức, khí huyết nóng âm ỉ nên lòng bàn tay chân nóng, mạch Sác là nhiệt, không đủ khí lực tuần hoàn nên mạch yếu là Vi Tế.

Muốn quân bình phải đại bổ chân âm thận thủy và bổ mẹ của thùy là phế kim, mà không được tả dương khí.

8-Chân dương bất túc :

Là chức năng chuyển hóa của thận dương hư, Mệnh Môn không đưa tâm hỏa vào thận để chuyển hóa khí, thận thủy âm không được Mệnh Môn chuyển hóa dương khí cho nên cơ thể dư nước, ứ nước, dấu hiệu bệnh như sắc mặt trắng mét, da thịt mát lạnh, môi lưỡi nhợt nhạt, ho suyễn hàn, thận sưng phù, tiêu chảy thường vào lúc sáng sớm, đàn ông thì liệt dương, đàn bà thì lãnh cảm, tinh huyết lạnh, hai chân yếu, da chân bóng, mạch không có lực, mạch Nhược.

Muốn quân bình phải bổ thận dương Mệnh Môn để chuyển thận thủy hóa khí mà không được tả thận thủy làm tổn thương âm khí.

Dựa vào các thí dụ trên, các loại bệnh tật đều do âm dương mất quân bình nghĩa là âm dương không bằng nhau, và mất hòa hợp là âm đương hợp lại không đúng 100%, có khi thiếu, gọi là hòa hợi thiếu, hay thừa gọi là hòa hợp dư. Cần phải biết phân loại âm dương để biết cách chữa khi nào bổ âm, khi nào tả âm, khi nào bồ dương, khi nào tả dương, hay bổ dương thông âm, ức dương bổ âm, bổ âm thanh dương, tả dương tồn âm, hồi dương liễm âm…

Trong tất cả các bệnh đều phải biết phân biệt bệnh thuộc âm hay dương mới quyết định được cách chữa đúng.

B-Nguyên tắc điều chỉnh Âm-Dương :

Theo biểu tượng vòng tròn lưỡng nghi, thì một bệnh có thể do âm dương trong ngoài mất quân bình theo 8 loại căn bản như :

1-Dư dương, âm đủ : Phải tả dương như trường hợp biểu thực

2-Thiếu dương, âm đủ : Phải bồ dương như trường hợp biểu hư

3-Dư âm, dương đủ : Phải tả âm như trường hợp lý thực

4-Thiếu âm, dương đủ : Phải bổ âm như trường hợp lý hư

5-Dư dương, dư âm : Phải tả âm, tả dương như trường hợp biểu thực lý thực

6-Thiếu dương, thiếu âm : Phải bổ âm, bổ dương như trường hợp biểu và lý hư

7-Âm dư, dương thiếu : Phải bổ dương, giữ âm như trường hợp lý hàn

8-Dương dư, âm thiếu : Phải bổ âm, tiềm dương như trường hợp lý nhiệt

Không kể những trường hợp bệnh nặng của âm dương như : Chân âm bất túc, chân dương bất túc, vong âm, vong dương. Các trường hợp khác của âm dương đều nằm trong 8 biểu tượng vòng tròn lưỡng nghi căn bản, trong đó phản ảnh được biểu-lý, hư-thực, hàn-nhiệt.

2-LÀM SAO PHÂN BIỆT BỆNH CHỨNG ÂM DƯƠNG BẰNG MÁY ĐO ÁP HUYẾT.

Theo KCYĐ

Thí dụ lấy tiêu chuẩn tuổi trung niên làm mẫu :

120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)

A-KCYĐ đặt ra quy ước thực-hư về khí và huyết.

Về khí lực từ 120 đến 130, chênh lệch nhau 10 chia làm 2 phần, mỗi phần là 5mmHg

Về huyết lực từ 70-80 số chênh lệch cũng chia 5 phần, mỗi phần là 2mmHg

1-Về thực chứng của khí lực là dương dư thừa :

Khi nói tới dư dương thì lấy số tốí đa cộng thêm mỗi số 5mmHg là tăng 10% như :

130 + 5mmHg = 135mmHg là dương 60% ( như bệnh áp huyết cao vừa)

130 + 10mmHg = 140mmHg là dương 70% (như bệnh áp huyết cao)

130 + 15mmHg = 145mmHg là dương 80% (như bệnh áp huyết qúa cao, chảy máu cam)

130 + 20mmHg = 150mmHg là dương 90% (biến chứng gây tai biến mạch máu não gây tê liệt)

130 + 25mmHg = 155mmHg là dương 100% (đứt mạch máu não, xuất huyết làm chết người)

Nếu so với áp huyết tiêu chuẩn tuổi lão niên :

130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)

Áp huyết tâm thu tối đa là 140mmHg.

Khi áp huyết tăng 5mmHg= 145mmHg tây y kết luận áp huyết cao, phải dùng thuốc trị áp huyết.

Nhưng áp huyết tăng trên tiêu chuẩn 20mmHg là 160mmHg là áp huyết qúa cao.

Nếu so với áp huyết tiêu chuẩn tuổi thiếu nhi :

95-100/60-65mmHg, mạch tim đập 60-120 là áp huyết ở tuổi thiếu nhi.( 5 tuổi-12 tuổi)

Áp huyết tâm thu tối đa 100mmHg,

Khi bé có tâm thu cao hơn 20mmHg thành 120mmHg, cháu bị áp huyết cao hay chảy máu cam, mà các bác sĩ không thấy nguyên nhân này là dương tăng 80%, nên không chữa bệnh áp huyết, mà chỉ bôi vaseline vào mũi do nguyên nhân tróc niêm mạc mũi, và tây y thường nói rằng cháu lớn lên sẽ hết chảy máu cam. Nhưng thực ra áp huyết cao vẫn theo cháu lên đến tuổi thanh niên, trung niên vẫn bị chảy máu cam, vì không biết nguyên nhân dư dương 80% này.

2-Về thực chứng của huyết là âm dư thừa :

Khi nòi dư âm thì lấy số tối đa cộng thêm 2mmHg là tăng 10% như

80 + 2mmHg = 82mmHg là âm 60%

80 + 4mmHg = 84mmHg là âm 70%

80 + 6mmHg = 86mmHg là âm 80%

80 + 8mmHg = 88mmHg là âm 90%

80 + 10mmHg = 90mmHg là âm 100%

3-Về hư chứng của khí lực dưong thiếu :

Khi nói tới thiếu dương, thì lấy số tối thiểu trừ đi mỗi số 5mmHg là thiếu 10% như ;

120 – 5mmHg = 115mmHg là dương thiếu còn 40%

120 – 10mmHg = 110mmHg là dương thiếu còn 30%

120 – 15mmHg = 105mmHg là dương thiếu còn 20%

120 – 20mmHg = 100mmHg làdương thiếu còn 10%

Áp huyết khí lực dưới 100mmHg là thuộc bệnh nan y, khó chữa.

4-Về hư chứng của huyết là âm thiếu :

Khi nói tới thiếu âm thì lấy số tối thiểu trừ đi mỗi 2mmHg là thiếu 10% như :

70 – 2mmHg = 68mmHg là âm thiếu còn 40%

70 – 4mmHg = 66mmHg là âm thiếu còn 30%

70 – 6mmHg = 64mmHg là âm thiếu còn 20%

70 – 8mmHg = 62mmHg là âm thiếu còn 10%

Áp huyết tâm trương huyết lực thấp dưới 62mmHg là bệnh nan y khó chữa.

B-Thực hành khám bệnh âm dương bằng cách khám âm-dương nhiệt độ của bàn tay và máy đo áp huyết :

Mu bàn tay là dương, lòng bàn tay là âm.

Người khỏe bình thường, muà hè nóng thì bàn tay mát, mùa lạnh thì bàn tay ấm.

Nếu có sự chệnh lệch hàn-nhiệt thì cơ thể có bệnh, gọi là mất quân bình âm-dương.

a-Thí dụ 60% dương, 40% âm, nếu đo áp huyết, dương 60% là 135mmHg , âm 40% là 68mmHg , áp huyết sẽ là 135/68mmHg, nhưng hòa hợp lại vẫn còn đủ 100% cả 2 phần, trường hợp này dùng châm cứu hay huyệt điều chỉnh lại âm-dương sẽ có kết qủa.

b-Nếu vừa mất quân bình âm-dương, vừa mất hòa hợp do tà khí lục dâm (thời tiết xâm nhập), hay do ăn uống sai lầm phá hỏng âm-dương, thay vì 60% dương, 40% âm là mất quân bình âm-dương nhưng còn hòa hợp, nay trở thành bệnh 80% dương 40% âm là vừa mất quân bình, vừa mất hòa hợp thừa dương, hay khi đo áp huyết có kết qủa (80% dương là 145mmHg, 40% âm là 68mmHg) đo áp huyết nếu có kết qủa là 145/68mmHg có nghĩa dương bên trong đã thịnh 60% lại thêm lục dâm hay thức ăn làm dương tăng thêm đến 80% làm thân nhiệt nóng không ra mồ hôi, khát muốn uống nuớc là tại sao? Vì âm có 40% là thiếu, sinh ra nội nhiệt, sự khí hóa tự động để bảo vệ cơ thể là phải giữ không cho âm mất thêm, nên vệ khí của cơ thể tự động không cho xuất mồ hôi, mà phải cần nước ở ngoài bổ sung thêm mới bảo tồn được âm.

Với lý thuyết này, khi chúng ta nghe một bệnh nhân nói người tôi nóng mà không bao giờ ra mồ hôi, có nghĩa người ấy có bệnh dương thừa, âm thiếu, cách chữa cần uống nước bổ sung, hay thiếu máu, nếu đo bằng máy đo áp huyết, thì bệnh này sẽ có số đo áp huyết khí lực thừa, huyết lực thiếu như : 145/68mmHg.

c-Ngược lại âm 80% (86mmHg), dương 30% ( 110mmHg), kết qủa nếu đo áp huyết thấy 110/86mmHg, cũng là âm dương vừa mất quân bình vừa mất hòa hợp vì dư thừa âm, là dương hư thiếu, sẽ tự thoát mồ hôi để bớt âm, nên không khát, không thích uống nước làm âm dư thừa. Nếu có người nói, người tôi hay ra mồ hôi, mà không thích uống nước, chúng ta biết ngay là bệnh âm thừa, dương thiếu, nếu đo bằng máy đo áp huyết sẽ có kết qủa như 110/86mmHg., trường hợp này châm cứu dùng huyệt, tả dư, điều chỉnh cho âm dương hòa hợp thì dễ.

Đối với khí công tập cho ra mồ hôi thì làm giảm âm.

d-Nếu âm 60% (82mmHg), dương 20% (105mmHg), khi đo áp huyết có kết qủa 105/82mmHg), cơ thể mất quân bình hoà hợp vì thiếu, có nghĩa là cơ thể thay vì 60% dương và 40% âm, tuy mất quân bình, nhưng vẫn hòa hợp đủ 100% thì dễ chữa bằng huyệt châm cứu có kết qủa, nhưng lại bị lục dâm như gió lạnh xâm nhập, mặc áo không đủ ấm, hay ăn uống thức ăn có tính hàn, hay giận dữ bực tức nói nhiều làm mất khí, mất nhiệt, sẽ đi đến vong dương là mất dương, kiểm tra bằng áp huyết có dương thấp còn dưới 10% hay dưới 100mmHg là sắp vong dương khi mất dương dần thì dưới 90/82mmHg, rồi xuống dần 80/82mmHg, xuống 70/82mmHg dương mất dần gọi là vong dương, thì bệnh này không thể chữa khỏi bằng huyệt hay châm cứu, mà phải tập khí công tăng khí, điều chỉnh ăn uống thuốc đông y tăng dương bớt âm để tái lập quân bình hòa hợp 50% âm+50% dương thành 100% thì mới khỏi bệnh.

Tại sao nói chânn cứu không chữa được bệnh này ? Vì châm cứ là điều chỉnh khí huyết sẵn có trong người đượng quân bình, như 60% âm + 20% dương, diều chỉnh quân bình là 40% âm+ 40% dương, thì vẫn còn gốc bệnh chưa hòa hợp 100%, vì thiếu âm phải bổ sung âm bằng thuốc bổ máu, uống nước, thêm đường, bổ sung dương bằng tập khí công, làm tăng âm tăng dương không phải nhiệm vụ của châm cứu, do đó các thầy châm cứu cổ xưa biết thêm cách dùng thuốc để cho bệnh nhân bổ sung phần thiếu mới khỏi bệnh.

e-Nếu âm 20% (64mmHg), dương 60% (135mmHg),khi áp huyết đo được 135/64mmHg, trong trường hợp đang bị bệnh âm 40% dương 60%, khi theo dõi mạch hay áp huyết từ 135mmHg (dư dương 10%, so với tiêu chuẩn tuổi), âm 68mmHg (thiếu 10% so với tiêu chuẩn tuổi), đo áp huyết sẽ là 135/68mmHg đối với tây y là tốt, vì không biết tình trạng khí huyết âm dương như đông y là áp huyết đang có bệnh. Khi âm xuống còn 20% thì áp huyết từ 135/68mmHg sẽ mất thêm âm còn 135/64mmHg, tự nhiên mất thêm âm dễ dàng như mất nước, tiêu chảy, bệnh viện lấy thêm máu để thử nghiệm, mệt xuất mồ hôi, lại không uống thêm nước hay dùng thuốc bổ thêm máu, khiến 6mmHg mất dần, sẽ đến tình trạng vong âm, là trường hợp gây ra ung thư và cách chữa của tây y lấy máu nhiều mà không cho bổ thêm máu sợ tế bào ung thư phát triển là đã tự làm vong âm thêm như 135/50mmHg, lúc đó bệnh nhân mất máu nuôi tế bào mà chết chứ không phải do ung thư mà chết.

Tóm lại mất âm phải bổ sung thêm âm là nước, là đường, là máu, ăn uống bổ máu, châm cứu hay dùng huyệt chì làm quân bình âm dương trong cơ thể như 60% âm +40% dương, châm cứu bấm huyệt, trên nguyên tắc là thầy giỏi biết điều chỉnh thì kết qủa tốt sẽ quân bình 50-50% âm dương, hay mất quân bình hòa hởp dư thừa như 40% âm 80% dương, dùng huyệt cắt tả bới dương 20%, còn 60 % dương diều chỉnh 10% sang bù cho âm 10% để quân bình hoà hợp, nhưng ai biết làm diều này, nếu không nhờ máy đo áp huyết để đưa kết qủa về tiêu chuẩn tuổi, thì chỉ là chữa mò, kết qủa chỉ tạm thời vì chưa chữa đúng gốc bệnh đưa áp huyết về tiêu chuẩn âm dương quân bình và hòa hợp

Còn mất quân bình âm dương thiếu, thì châm cứu, khí công không chữa đúng gốc bệnh là thiếu thì bổ sung âm bằng thức ăn chứ không phải bằng huyệt làm tăng máu được, như xe thiếu xăng không thể châm cứu giống như chỉnh vặn nút này nút kia hay khí công là đẩy cho xe chạy được.

Nếu mất quân bình thiếu hòa hợp, tại sao nói châm cứu hay bấm huyệt hay khí công không chữa đúng gốc bệnh được, thí dụ 30% âm. 50% dương, châm cứu hay bấm huyệt giỏi thì chỉ giúp quân bình thành 40-40%, vì thiếu không làm thành 100% được, cho nên dư thì dễ chữa, thiếu thì cần phải bù từ bên ngoài vào. Muốn biết thiếu thừa hay quân bình đúng cũng cần phải đo áp huyết theo dõi cả 3 số đúng tiêu chuẩn.

Khí công và châm cứu bấm huyệt có thể cắt bớt khí, bớt huyết, nhưng không thể thêm huyết, thuốc bắc có thể thêm âm, thêm dương, nhưng dương là khí dễ bị mất khi bệnh nhân không biết cách duy trì khí để bảo quản âm huyết, do đó mà những bệnh nan y chữa không khỏi, vì thiếu âm như chất bổ máu, thiếu nước, thiếu đường, nên hiện nay sở dĩ có nhiều bệnh ung thư do thiếu âm là máu và đường, thiếu máu và đường được thấy rõ nhờ máy đo áp huyết.

Theo thống kê thì số tâm trương là máu, nước, mỡ lẫn lộn trong máu, nên tâm trương cao, nhưng có thể vẫn thiếu máu mà dư thừa nước, dư thừa mỡ, cholesterol, nên cần phối hợp với xét nghiệm tây y để biết có dư cholesterol trong máu, hay thiếu hồng cầu hay không.

Còn nếu theo đông y, nhìn dấu hiệu thiếu máu hiện trên mắt, lưỡi, da thấy thiếu mà tâm trương cao thì không phải dư máu mà dư mỡ, dư nước, cho tập khí công cho người tăng nhiệt toát mổ hôi, tan mỡ thì tâm trương sẽ hạ thấp mới là tình trạng thực của lượng máu trong cơ thể. Còn nếu người ốm, bụng nhỏ, không chứa nước chứa mỡ thì tâm trương cao mới thực là dư máu.

Tuy nhiên thiếu âm do đường thì khi thử máy đo đường ai cũng thấy thiếu so với tiêu chuẩn âm theo đông y phải phù hợp vói nhịp tim, mạch không Sác, không Trì mà mạch Hoãn từ 70-80, hiện nay trên thế giới đều khuyên bớt ăn đường làm thiếu âm là nguyên nhân gây ra bệnh ung thư, và hiện nay nền y học hiện đại tiên đoán đến năm 2060 trên thế giới sẽ có 40% dân số thế giới mắc bệnh ung thư, thay vì y học tiến bộ, thì bệnh viện phải ít cần đến, nhưng ngược lại y học càng tiến bộ thì bệnh viện càng xây lớn và xây nhiều bệnh viện để nhận được nhiều bệnh nhân hơn, sơ thiếu không đủ chỗ cho người bệnh, đó là một nghịch lý của sự tiến bộ trong ngành y.

Để phòng bệnh, cần biêt tình trạng bệnh qua kết qủa máy đo áp huyết, và để biết đông y hay tây y chữa đúng hay sai, khỏi hay chưa khỏi, nặng hay nhẹ, cả hai loại thầy thuốc khi muốn chữa bệnh là phải biết cách điều chỉnh tình trạng khí huyết cho bệnh nhân quân bình và hòa hợp, hay chính bệnh nhân phải nhờ vào máy đo áp huyết so với tiêu chuẩn tuổi sẽ biết được kết qủa trong thời gian điều trị đúng hay sai, hay tự biết khi nào cần bổ sung khi nào phải cắt bỏ dư thừa do ăn uống hay do thuốc, do đó cách chữa tự nhiên nhất là không được lạm dụng dùng thuốc suốt đời khi kết qủa máy đo áp huyết là máy đo tình trạng âm-dương khí huyết đã được quân bình trong tiêu chuẩn tuổi.

Nhờ máy đo áp huyết mới kết hợp được kiến thức đông tây y, lý thuyết bệnh của đông y lúc nào cũng cho rằng mất quân bình âm dương khi thiếu khi dư mà gọi là hư thực, tây y thắc mắc lấy gì chứng minh, nay môn Y Học Bổ Sung lấy máy đo áp huyết chứng minh bằng con số cụ thể như trên, như vậy từ nay với con mắt nhìn kết qủa máy đo áp huyết, thầy đông y biết thế nào là khí huyết bị bệnh, nhưng ngược lại, tây y dùng máy đo áp huyết lại không thấy bệnh chi tiết rõ ràng như đông y, mà cứ cho rằng áp huyết từ 100-140mmHg, trong giới hạn này đều tốt mà không thấy số nào bệnh, số nào không bệnh rõ ràng là một thiếu sót sai lầm.

C-Một thí dụ mẫu để tìm bệnh âm-dương mất quân bình hòa hợp :

Nam, 28 tuổi, cách đây hai năm cháu bắt đầu bị bệnh, đau đầu mờ mắt, dạ dày, đại tràng rồi đau cổ vai gáy, rồi huyết áp thấp, nhịp tim chậm. Và hiện tại bây giờ cháu rất yếu, hụt hơi khó thở, thỉnh thoảng nhói tim, mắt mờ lắm và rất khó tập trung nhìn vào vật cụ thể. Tay không lạnh nhưng từ bụng đến chân rất lạnh, sợ gió sợ lạnh, bụng cồn cào khó chiu, các khớp không được êm ái, đi tiểu nước tiểu vàng. Huyết áp cháu đo được như sau ạ:

-trước ăn:+tay trái: 97/49/59 + tay phải:113/53/57

sau ăn: + tay trái: 105/49/58 + tay phải:107/55/58

So với áp huyết tiêu chuẩn tuổi :

110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi)

1-Cách tính nhanh về khí lực :

Cứ thấp 1 lần 5mmHg thì dương còn 40%

2 lần 5mmHg thì dương còn 30%

3 lần 5mmHg thì dương còn 20%….

Khí lực lấy số tối thiểu 110 trừ 97 tay trái = 13 (hơn 2 lần 5mmHg) thì dương còn khoảng 25% trước khi ăn.

Sau khi ăn tay trái 120 trừ 105 = 15 (là 3 lần 5mmHg) thì dương còn khoảng 20%. Như thế là thức ăn đã làm mất dương.

Tay phải trước khi ăn áp huyết phải cao, lấy 120 trừ 113 = 7 (hơn 2 lần 5mmHg) dương còn khoảng 25%

Sau khi ăn, áp huyết bên gan xuống 110 trừ 107 = 3mmHg dương còn khoảng 45%

2-Cách tính nhanh về huyết lực :

Cứ thấp 1 lần 2mmHg thì âm còn 40%

2 lần 2mmHg thì âm còn 30%

3 lần 2mmHg thì âm còn 20%….

Lấy tiêu chuẩn thấp 65 trừ 49 tay trái = 16mmHg là gấp 8 lần, thì thức ăn không có bổ âm huyết 0%

65-54= 11mmHg gấp 5,5 lần thì làm mất máu trong cơ thể thêm gọi là tình trạng vong âm

Nhịp tim tiêu chuẩn trung bình 68 so với nhịp tim hiện tại sau khi ăn 58 là thiếu 10 là thiếu đường, mạch Trì đi chậm và người lạnh

Kết luận : Tính theo % chuyển hóa thì dương còn 20% , âm còn 0% là thức ăn không có tạo máu

Tính theo % hấp thụ bên gan, đây là bệnh dương còn 45%, âm 0%

Đây là dấu hiệu ung thư.

Muốn cứu bệnh này, thì uống thêm đường là tăng âm, đường pha với nước, nước cũng là âm làm tăng lượng máu tuần hoàn, nhưng tạm thời làm giảm tỷ lệ hồng cầu vì máu loãng. Tuy nhiên nhờ đường làm chức năng chuyển hóa thức ăn và tăng tính hấp thụ thức ăn thành máu với điều kiện phải uống thuốc bổ máu, ăn thức ăn bổ máu, kiêng ăn chất phá máu, chất hàn lạnh làm giảm nồng độ đường không đủ nhiệt chuyển hóa thức ăn, và giúp tăng nồng độ máu tuần hoàn.

Sau khi ăn cần thử đường, đường-huyết thiếu dưới 8.0mmol/l phải uống thêm đường rồi tập bài khí công chuyển hóa thức ăn : Kéo Ép Gối Thổi Hơi Ra Làm Mền Bụng 300 lần, đang tập thấy mệt không tập nổi do thiếu đường là thiếu âm nhiều, cần thử lại đường, và uống cho đường tăng lên trên 8.0mmol/l rồi tập tiếp cho đủ số 300 lần.

Sau đó tập bài làm tăng áp huyết : Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực 200 lần và bài Nằm Đá Gót chân vào mông 300 lần làm tăng thân nhiệt, tăng áp huyết chuyển hóa đường giúp bao tử chuyển hóa thức ăn thành chất bổ, giúp gan hấp thụ chất bổ thức ăn thành máu.

Sau khi tập, đo lại áp huyết và đường bên gan :

115/60mmHg 65 kết qủa là dương không thiếu, nằm trong tiêu chuẩn, âm còn thiếu 5mmHg khoảng 25% là do còn thiếu đường, vì nhịp tim ở mức tối thiểu thì đường tương đương 6.0mmol/l, phải uống thêm đường để tồn âm (là giữ âm không bị mất).

Do đó, cách phòng ngừa ung thư là cơ thể cần máu và cần đường chuyển hóa thức ăn để tập khí công, nếu uống đường mà không tập khí công thì thức ăn không được chuyển hóa thành máu nên âm vẫn thiếu, mà đường bị giữ trong mỡ bụng, muốn tan mỡ bụng và tăng đường chuyển hóa thì không cần uống thêm đường, chỉ cần tập khí công cho xuất mồ hôi thì đường xuất ra theo máu tuân hoàn, đo lại đường trong máu sẽ tăng.

Tập khí công phòng bệnh, chữa bệnh, có ưu điểm tăng dương, nhờ đường giúp thức ăn chuyển hóa máu và bảo vệ âm không bị mất, KCYĐ chỉ không chữa được những bệnh kiêng ăn bổ máu, bổ đường như kiểu thiếu âm thiêu dương mà ăn gạo lức muối mè làm ất thêm âm mất thêm dương do không theo dõi âm-dương bằng máy đo áp huyết và máy đo đường và lười tập để bị bệnh nặng khó chữa hì đành bó tay.

D-Phương pháp đánh giá các thầy chữa bệnh một cách công bình :

Y học mục đích học cách chữa bệnh cho mọi người, không phân biệt đông tây y, châm cứu, bấm huyệt, thuốc bắc, dinh dưỡng, dưỡng sinh, khí công, vật lý trị liệu, hay y học dân tộc cổ truyền bản xứ hoặc bất cứ phương pháp chữa bệnh nào….cần phải đạt được kết qủa giống nhau.

Khi sinh viên y khoa học các môn, muốn tốt nghiệp ra trường phải bốc thăm chữa bệnh cho một bệnh nhân, được kiểm chứng áp huyết và đường trước, sinh viên muốn chữa theo phương pháp nào cũng được, hội đồng giám khảo chấm đậu rớt căn cứ vào kiểm chứng đo áp huyết và đường sau khi chữa đã được quân bình âm dương chưa, nếu khỏi bệnh, áp huyết và đường lọt vào tiêu chuẩn thì cho tốt nghiệp hạng ưu, nếu không đạt được tiêu chuẩn như thế thì cho chữa bệnh nhân thứ hai, nếu đạt tiêu chuẩn cho đậu hạng trung bình, nếu không đạt tiêu chuẩn cho chữa thêm một bệnh nhân thứ ba, nếu đạt tiêu chuẩn thì cho đậu hạng thứ, cả 3 bệnh nhân không đạt tiêu chuẩn thì cho rớt.

Với cách này, hội đồng giám khải sẽ hỏi vấn đáp : anh hay chỉ làm cách nào mà đã làm cho khí lực tăng hay giảm, làm cách nào đã làm cho huyết lực tăng hay giảm, từ đó có người nói, tôi dùng huyệt, tôi cho tập khí công, tôi cho uống thuốc viên, tôi cho ăn, tôi cho uống nước dinh dưỡng…sau mỗi khóa sẽ đúc kết được nhiều kinh nghiêm về dùng huyệt, dùng thuốc, dùng thức ăn thuốc uống và tập khí công…tất cả sẽ là một môn thuốc chữa đúng bệnh mà mọi người cần phải học, để cho các sinh viên y khoa các khóa sau tiến bộ hơn.

Với cách này thì các thầy thuốc không còn tranh cãi khen chê đông tây y, y học dân tộc cổ xưa của bản xứ nữa, ví nó đều là kho báu của nhân loại.

Thân

doducngoc

(còn tiếp phần đông y cao cấp)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s