Phần tiếp theo quyển SÁCH LÀM SAO CHÚNG TA ĂN UỐNG NHIỀU ĐƯỜNG MÀ KHÔNG SỢ BỊ BỆNH TI ỂU ĐƯỜNG

Phần V :

KINH NGHIỆM CỦA NGÀNH Y HỌC BỔ SUNG VỀ ĐƯỜNG-HUYẾT.

A-ƯU ĐIỂM KHÁM TÌM BỆNH BẰNG MÁY ĐO ÁP HUYẾT VÀ ĐƯỜNG.

Tuy đông y khám tìm bệnh căn cứ vào âm-dương, khi âm-dương quân bình hòa hợp thì cơ thể khỏe mạnh không bệnh tật, khi âm-dương mất quân bình hòa hợp thì bệnh phát sinh, chúng ta cũng thấy ngay nguyên nhân sinh ra bệnh do đâu rất là dễ dàng, chỉ cần biết âm-dương là gì theo lý thuyết đông y đơn giản như sau :

1-Định nghĩa :

a-Tính chất của âm-dương :

Âm là chất nhìn thấy được là máu, là nước, là dịch chất, là các tế bào xương cốt da thịt, các cơ quan hoạt động trong cơ thể đặc hay lỏng…, như vậy theo 3 chất của tây y chất đạm, bột, đường, cũng là chất âm nuôi tế bào phát triển phần âm trong qúa trình thời gian từ sinh, trưởng, già bệnh đến chết.

Tế bào chất của tế bào nhờ khí lực của dương giúp sinh hóa, chuyển hóa tạo ra đủ các chất mà cơ thể cần, từ chất đặc tạo ra xương răng, móng, thịt, da, lông tóc, máu, hồng cầu, bạch cầu, các dịch chất, các loại hormone, các loại thuốc tự chữa bệnh trong cơ thể….

Dương là khí lực, năng lượng vô hình, hoạt động sinh hóa, giúp co bóp chuyển hóa tế bào giúp duy trì phần âm được phát triển quân bình, không để bị thừa hay thiếu mà sinh bệnh.

Trong cơ thể chúng ta có hàng tỷ tỷ tế bào các loại, và tế bào là một đơn vị nhỏ nhất mang hình thức âm-dương thu nhỏ đều chứa 3 thành phần đạm, bột, đường tổng hợp nằm trong máu, tùy tỷ lệ khác nhau có trong tế bào đề cung cấp cho ta sự sống…

b-Sự vận chuyển âm-dương cơ thể như thế nào ?

Hiểu đơn giản thì ÂM gọi chung là HUYẾT gồm mỡ, máu, nước, đường… có thể đo được bằng máy đo áp huyết số tâm trương (diastolic)

DƯƠNG gọi chung lả KHÍ hay áp lực khí cũng có thề đo được bằng máy đo áp huyết số tâm thu (systolic)

c-Thế nào là quân bình âm-dương ?

Đông y bắt mạch biết ngay âm-dương quân bình thì không bệnh, mất quân bình dư thừa âm hay thiếu âm, hoặc dư thừa dương hay thiếu dương, tỳ lệ chênh lệch nhiều thì bệnh nặng, chênh lệch ít thì bệnh nhẹ, phải theo một quy ước hay định đề chung theo từng hạng tuổi, gọi là tiêu chuẩn áp huyết theo tuổi :

Đây là bảng tiêu chuẩn áp huyết theo loại tuổi theo kinh nghiệm của khí công y đạo

95-100/60-65mmHg, mạch tim đập 60-120 là áp huyết ở tuổi thiếu nhi.( 5 -12 tuổi)

100-110/60-65mmHg, mạch tim đập 60-70 là áp huyết ở tuổi thiếu niên (13-17 tuổi)

110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18-40 tuổi)

120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41-59 tuổi)

130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60tuổi trở lên)

Thí dụ chúng ta lấy tuổi trung niên để phân tích âm-dương :

Dương khí tạo ra lực đẩy và khí nóng :

Số tâm thu (systolic) 120-130mmHg là dương thuộc khí lực, áp lực khí bơm máu tuần hoàn, khi đói áp lực khí tối thiểu ở mức 120, khi no tối đa là 130, người nào trong hạn tuổi này có áp lực khí thấp hơn 120 gọi là thiếu khí lực hay thiếu dương, hay còn gọi là áp huyết thấp, còn cao hơn 130 là dư dương hay còn gọi là áp huyết cao.

Âm huyết tạo ra khí mát :

Số tâm trương (diastolic) 70-80mmHg chỉ huyết gồm lượng máu, nước, mỡ, đường…, tối thiểu ở mức 70, tối đa là 80, nếu thấp dưới 70 là cơ thể thiếu máu nuôi tế bào, nếu cao hơn 80 là cơ thể dư thừa máu, mỡ…

Nếu khí lực và lượng huyết đúng đủ theo tiêu chuẩn thì máu được khí co bóp tim bơm máu tuần hoàn khắp cơ thể ra tới tận ngoài da đem máu và đường nuôi các tế bào đầy đủ, tốc độ bơm máu đều, hòa hoãn, làm da thịt trong ngoài cơ thể ấm áp, không nóng không lạnh, người ta đo được nhịp mạch đập của tim tối thiểu 70 tối đa 75, nếu máu chạy nhanh hơn thì người bị nóng, nếu máu chạy chậm hơn thì người lạnh, cho nên nhịp tim đông y bắt mạch để biết tình trạng hàn-nhiệt nóng lạnh của cơ thể.

Đường-huyết :

Máy đo thử tiều đường là tìm tỷ lệ đường trong máu, hay còn gọi là nồng độ nhiệt độ của máu. Nếu nhiệt độ máu trung bình 36.5-37.5 độ C thì tỷ lệ đường trong máu quân bình, khi ít là lúc đói từ 6.0-8.0mmol/l, khi nhiều lúc no sau khi ăn từ 8.0-11.0mmol/l, thì nhiệt độ 5 đầu ngón tay ấm, không nóng không lạnh.

Nếu sờ 5 đầu ngón tay lạnh thì tỷ lệ đường-huyết thấp dưới 6.0mmol/l, ngược lại 5 đầu ngón tay nóng nhiều là đường huyết cao trên 8.0mmol/l

Nhịp tim : Như vậy nhịp tim lệ thuộc vào 4 yếu tố cho biết tính chất hàn nhiệt, tốc độ tuần hoàn của khí bơm máu và nồng độ đường trong máu, nên đông y có nhiều kinh nghiệm chẩn bệnh theo đặc tính âm-dương qua máy đo áp huyết và đo đường thay cho bắt mạch kiểu cổ điển của đông y để biết khí thiếu hay dư, huyết thiếu hay dư, đường thiếu hay dư và hậu quả gây ra dấu hiệu bệnh như thế nào :

-Dương hư, thiếu khí lực tâm thubên ngoài da lạnh, nhiệt độ đo ngoài da thấp (dương hư ngoại hàn), hay tự đổ mồi hôi và mệt ( dương hư tự hãn).

-Âm hư, trong người thiếu lượng máu, thì trong người nóng (âm hư sinh nội nhiệt)

-Dương thịnh, thừa khí lực tâm thu, bên ngoài da nóng, nhiệt độ ngoài da cao.

-Âm thịnh, thừa lượng máu, nước, bên trong người lạnh.

-Dương khí dư thì ngoài nóng mà không ra mồ hôi.

Âm huyết dư thì ngoài lạnh nhiều mồ hôi là nước trong máu xuất ra bằng mồ hôi.

-Âm thắng làm dương bị bệnh, có nghĩa âm nhiều hơn làm mất quân bình dương thì dương bị bệnh. Như vậy bệnh ở phần dương thì người phát nóng mà ớn lạnh.

-Dương thắng thỉ âm bị bệnh, có nghĩa dương nhiều hơn làm mất quân bình âm thì âm bị bệnh. Như vậy thì người không nóng nhưng sợ lạnh.

d-Tính chất bệnh của âm dương :

Có những dấu hiệu bệnh sau đây và cách chữa là đối chứng nghịch lại để lập lại quân bình âm-dương, như :

Thí dụ 1 :

-Người nóng sốt cao, miệng khát, lưỡi đỏ khô, mạnh hồng đại, đông y gọi là dương thịnh âm suy, cách chữa là đối nghịch lại gọi là ức dương tư âm có nghĩa là ức chế không cho dương tăng lên mà cho xuống và bổ âm cho âm tăng lên bằng dương thì khỏi bệnh.

Thí dụ 2 :

Đau bụng tiêu chảy, lưỡi trắng ướt, mạch trì trầm, là âm thịnh dương suy, cách chữa phải ôn dương làm ấm nóng dương, giữ âm không cho tăng.

Thí dụ 3 :

Lưỡi đỏ, ít nước, không rêu, má đỏ môi hồng, ngũ tâm phiền nhiệt (tim nóng bực bội khó chịu), ho, ra mồ hôi trộm, mạch trầm vô lực, gọi là bệnh âm hư triều nhiệt (thiếu máu cho tim tuần hoàn làm tim co thắt, cách chữa là bổ âm là bổ máu.

Thí dụ 4 :

Suyễn mãn tính, phiền táo, cuồng loạn, nói xàm, táo bón, rêu lưỡi vàng có gai, mạch trầm có lực, gọi là bệnh dương thịnh triều nhiệt, cách chữa ức dương tồn âm, là kìm hãm dương, bổ âm.

Như vậy, bệnh của con người không ra ngoài 3 yếu tố quan trọng là khí, huyết, đường

đủ hay thiếu, nóng hay lạnh khi 1 trong 3 yếu tố làm mất quân bình âm dương.

Riêng về dường-huyết trong bệnh tiểu đường chúng ta sẽ phân tích những dấu hiệu bệnh và biến chứng bệnh do đường trong máu thấp do uống thuốc chữa bệnh tiểu đường làm hạ đường và những người tự gây ra bệnh do kiêng sợ không dùng đường làm mất quân bình khí huyết đường để tiếp tế cho tế bào chất nuôi nhân tế bào phát triển.

2-Phân tích hậu quả thiếu đường-huyết nhiều hay ít gây ra những bệnh gì và biết cách tự chữa khỏi bệnh.

Tỷ lệ đường = insulin là dương = âm, không bị bệnh tiểu đường, mức đường huyết khi đói 6-8mmol/l (100-140mg/dL)

đường < insulin là bệnh tiểu đường thấp, thấp ít khi đói dưới 6.0mmol/l

thấp nhiều khi đói dưới 5mmol/l thì có nhiều dấu hiệu bệnh hơn

thấp quá nhiều khi đói dưới 4mmol/l thì có dấu hiệu bệnh nặng.

Nguyên nhân chính do thiếu đường làm rối loạn Khí và Huyết, làm áp huyết khi cao khi thấp, làm tắc nghẽn mao mạch dẫn khí huyết nuôi tế bào. Nên chúng ta phải nghiên cứu kỹ thống kê nguyên nhân bệnh dưới đây sẽ thấy : Trăm bệnh do đường cao, nhưng hàng ngàn bệnh do đường thấp là nguyên nhân chính, muốn khỏi bệnh thì bổ sung bằng đường mía, đường cát vàng mà không sợ bị bệnh tiểu đường, và tập khí công làm tăng insulin, đường đủ sẽ chuyển hóa khí huyết tăng sức khỏe chống bệnh tật nhanh nhất.

Dưới đây là phần tóm tắt những trường hợp bệnh đã kể trên được thống kê các dấu hiệu bệnh do thiếu đường từ thiếu ít, đến thiếu nhiều gây ra hậu qủa những bệnh gì, đường-huyết càng thiếu nhiều thì bệnh càng phức tạp có nhiều bệnh càng nặng hơn, nguy hiểm hơn, để chúng ta có kinh nghiệm tự khám định bệnh cho mình biết nguyên nhân gốc bệnh thì không cần phải chữa vào ngọn bệnh là chữa từng bệnh mất thời gian tốn tiền bạc mà gốc bệnh chưa được chữa trở thành nặng hơn, đang lợn lành thành lợn què. Khi có những dấu hiếu bệnh này thì dùng máy đo đường kiểm chứng ngay, lúc đó chúng ta mới biết tiêu chuẩn đường của năm 1979 là đúng, (khi bụng đói từ 6-8mmol/l, khi bụng no phải cao hơn ) áp dụng đúng theo tiêu chuẩn này thì 80% bệnh tự nhiên biến mất không cần chữa.

Còn theo tiêu chuẩn đường hạ thấp như hiện tại mà ngành y đang áp dụng là sai, (cao hơn 6mmol/l là bị bệnh tiểu đường), theo tiêu chuẩn này nó gây ra biến chứng nhiều bệnh nan y chỉ do nguyên nhân thiếu đường cơ thể không có đường chuyển hóa thành năng lượng cho tế bào hoạt động.

Theo như tài liệu của Bác Sĩ Nguyễn Thượng Chánh tìm ra bằng chứng trong các video dẫn chứng, thì quả thật đúng với câu nói là : tây y bán bệnh để mình phải mua đủ loại thuốc để chữa bệnh do biến chứng thiếu đường gây ra.

a-Chỉ thiếu đường-huyết, áp huyết đúng tiêu chuẩn :

Chỉ cần uống 3 thìa đường cát vàng (đường mía) sau khi ăn cho lên 140mg/dL rồi tập bài Kéo Ép Gối 300 lần để chuyển hóa thức ăn.

Đường-huyết thấp dưới 100mg/dL = 6.0mmol/l đã gây ra những bệnh :

Khối u trực tràng, bướu buồng trứng, mập mở bụng, đầu ngón tay lạnh. Thoái hóa các khớp làm cứng khớp cổ gáy, lưng, háng,

Mệt suốt ngày đêm, chân tay uể oải, mất ngủ kinh niên, đau đầu gối chờ ngày giải phẫu, tức ngực, đau hông trái.

Vẹo cột sống, lòi điã cột sống.

Liệt đường ruột

Bệnh trĩ, mắt mờ

Mỡ trong máu, gout, thần kinh tọa, bướu cổ, giảm trí nhớ

Parkinson hư chứng (giả) hai bàn tay run giật

Đau lưng, cổ gáy vai

Đau tay, chân rất khó đi lại

Bao tử lạnh, ăn không tiêu, người lạnh, không có sức, luôn mệt.

Đường-huyết thấp dưới 90mg/dL=5.5mmol/l gây ra những bệnh :

Trầm cảm.

Khó thở, khô khớp xương cổ tay, háng, đầu gối, ra mồ hôi tay, nghẹn cổ họng, di tinh

nhịp tim thấp

Đường-huyết thấp dưới 80mg/dL=5.0mmol/l gây ra những bệnh :

Mắt lé lưng gù đi lệch, thiếu máu và thiếu đường lên nuôi mắt

Mất ngủ đau nhức toàn thân

Thần kinh gân cơ co rút chân tay

Viêm tai mũi họng, đau đầu cổ gáy vai lưng, lạnh bụng tiêu chảy, tay chân lạnh, đầu nóng

Đục thủy tinh thể

Viêm tai giữa đau đầu, cột sống, khó thở

Đường-huyết thấp dưới 70mg/dL=4.5mmol/l gây ra những bệnh :

Tê 2 bả vai

Suy tim, phổi, khó thở đờm nghẹn ăn không tiêu, mệt không có sức, suy nhược trầm trọng

Lạnh sống lưng, gáy, ngón chân bàn chân trái bị tê,

Đau nhức cổ gáy vai, nhịp tim thấp

Đau nhức toàn thân, đau cột sống

Buồng trứng bị u nội mạc dính ăn lan vào ruột và bộ phận xung quanh, mệt mỏi ăn không tiêu, mỏi cổ gáy vai, xương khới, mất ngủ

Đường-huyết thấp dưới 60mg/dL=4.0mmol/l gây ra những bệnh :

Bướu trán, bướu cổ, bướu tử cung, phình tĩnh mạch chân, lạnh chân tay,

Bỏ bữa ăn làm mệt tim.

b-Thiếu đường-huyết, kèm thêm bệnh khí và huyết cao hay thấp :

Cách chữa :

Thiếu đường thì uống nước đường cát vàng cho lên đủ tiêu chuẩn 8mmol/l, thiếu máu thì bổ máu, thiếu khí thì tập khí công cho tăng khí, dư khí dư máu và thừa nước, thừa cholesterol trong máu thì tập bài khí công làm hạ khí, tiêu cholesterol.

Đường-huyết thấp dưới 100mg/dL = 6.0mmol/l đã gây ra những bệnh :

Bướu cổ, bướu mỡ trong ổ bụng, áp huyết cao hơn tiêu chuẩn cả khí và máu.

Viêm gan siêu vi B đã lâu và bị gan thô, xơ gan, huyết áp thấp cả khí và máu

Bị lỡ niêm mạc miệng thiếu khí, thiếu máu.

Viêm sớt niêm mạc dạ dày ăn không tiêu 5-6 năm, thiếu khí và máu.

Đau nhức và mất ngủ kinh niên, người cứ bần thần, đau khớp gối mệt ngộp thở, chân yếu đi lại không được do khí lực cao hơn tiêu chuẩn.

Thiếu máu não do thiếu máu lên não, thiếu khí.

Bướu cổ, bướu ổ bụng, bao tử lạnh, ăn không tiêu, không muốn ăn, người rất mệt, trào ngược thực quản, tay chân hay bị tê. Thiếu khí thiếu máu.

Bệnh cholesterol, cao áp, gout, thần kinh tọa, bướu cổ, giảm trí nhớ. Áp huyết cao dư khí dư máu.

Đường-huyết thấp dưới 90mg/dL=5.5mmol/l gây ra những bệnh :

Nhức nửa đầu, dị ứng, áp huyết thấp thiếu khí thiếu máu.

Chóng mặt mệt tim, dư khí.

Bệnh tiểu nhiều, rối loạn tiền đình, dư khí.

Thoái hóa xương cổ đốt 3,4,5, thoát vị đĩa đệm thắt lưng đốt 5,6 áp huyết thấp thiếu khí thiếu máu.

Suy thận độ 2, đau nhức vai kinh niên, khí thiếu.

Yếu gan thận, mệt mỏi, đau nhức toàn thân, thiếu khí nhịp tim thấp.

Đau nhức cổ gáy vai .

Đường-huyết thấp dưới 80mg/dL=5.0mmol/l gây ra những bệnh :

Lọc thận 3 ngày/tuần cao áp huyết giả dư khí dư máu.

Viêm đa khớp 2 năm, khớp gối có dịch, tay phải dơ lên khó, tim đập nhanh về chiều, cảm thấy mệt, ngủ chập chờn, áp huyết thấp thiếu khí thiếu máu

Người bị lạnh, đau cổ gáy vai tay, thiếu khí.
Ăn vô độ, trầm cảm 13 năm, mệt mỏi buồn rầu, thiếu khí thiếu máu.

Ăn không tiêu khó thở, ho thở như suyễn, chóng mặt mệt tim, áp huyết cao thiếu đường chuyển hóa

Rối loạn nhịp tim, áp huyết cao dư khí dư huyết và cholesterol..

Parkinson giả, u sọ não chân tay vô lực, do thiếu khí, thiếu máu, nhịp tim thấp.

U nang thận, đau lưng, trước bụng có khối u to cứng, khí huyết thấp

Ung thư tuyến tiền liệt vừa mổ, bụng to, chân sưng nóng trong xương ống chân, lạnh ngoài da, thiếu khí.

U xơ tử cung viêm gan, thiếu khí, thiếu máu.

Rối loạn đường ruột, đầy hơi, mồi hôi mùi nước tiểu, tỉnh giấc ban đêm rất bị mệt, đau hậu môn, mổ võng mạc, thiếu khí, thiếu máu

Mệt thở không ra hơi, thừa khí

Hơi thở chậm chỉ hít vào như suyễn nên rất mệt, thừa khí, thiếu máu.

Da xanh nhợt, miệng đắng, biếng ăn, chân tay lạnh, tim đập mạnh nhanh, thiếu khí

Ung thư vú di căn sang phổi, gan, bao tử, ruột già tử cung, thiếu máu.

Thoái hóa đốt ngón tay co rút không co duỗi được, thiếu khí thiếu máu.

Hở van tim, mắt bị lóe, đau nửa đầu phải, ù tai, mẩn ngứa, hôi miệng, đau từ vai đến cùi chỏ, thiếu khí do dùng thuốc giảm áp huyết, đi cầu thang hay làm việc thì mệt.

Đường-huyết thấp dưới 70mg/dL=4.5mmol/l gây ra những bệnh :

Nang thận, viêm amidan hốc mủ, thiếu khí thiếu máu

Đau nhức toàn thân 20 năm, sưng thấp khớp, mệt mỏi mất ngủ, đau 1/2 đầu trái, nửa người nặng nề như tê liệt, ung thư vú, bướu não, đi khó khăn, áp huyết thấp thiếu khí thiếu máu

Bướu phổi ho, bướu ổ bụng, chóng mặt buồn nôn, mệt mỏi ăn không tiêu xuống cân, thiếu khí thiếu máu

U gan ác tính biến chứng suy thận chân phù, thiếu máu

U xơ tử cung, nhức mỏi chân tay, tắc ống dẫn trứng, thiếu khí

Sợ lạnh, tiểu đêm, thoái hóa đốt sống cổ thiếu khí thiếu máu

Hay mệt, áp huyết thấp thiếu khí thiếu máu

Bướu vú thiếu khí thiếu máu

Mặt nám đen, ngứa khắp người, men gan cao, viêm cầu thận cấp, thiếu khí, nhịp tim thấp

Thoái hóa cột sống lòi đĩa đệm cổ gáy lưng, xương khô cứng đau lưng trên làm khó thở, đau nhói giữa ngực lói ra sau lưng, xung huyết hang vị, dùng thuốc chữa bệnh đau bao tử, mệt mỏi, chân tay yếu , bủn rủn, không tập trung. Thiếu khí huyết đường

Đường-huyết thấp dưới 60mg/dL=4.0mmol/l gây ra những bệnh :

Tiểu đêm, tiểu són, cứng gan, khó ngủ, chân tay lạnh, yếu sức đứng không nổi hay té xỉu. Thiếu khí thiếu máu.

Không có sức đi trong nhà phải vịn tường, nhức nửa đầu như búa bổ, mắt mờ, sổ mũi, khó ngủ, bướu sưng lớn làm đau, bị mất máu nên thiếu chất sắt..thiếu khí huyết đường trầm trọng.

Sưng giãn phế quản, người lúc nào cũng lạnh, khó thở, ho nhiều không khỏi, mặt xanh xao, khó ngủ, ăn không tiêu bụng lình bình, đi cầu khó. Thiếu khí huyết dường

Khối u trực tràng, thiếu khí thiếu đườngUng thư vú đã hóa xạ trị do kiêng khem, thiếu khí huyết đường.

Đường-huyết thấp dưới 50mg/dL=3.5mmol/l gây ra những bệnh :

Parkinson giả do hư chứng, co giật toàn thân, áp huyết cao thực chứng, thiếu đường

Dùng thuốc hạ áp huyết và hạ đường thấp bị hôn mê, thiếu khí, thiếu đường

Mắt lé do thiếu máu thiếu đường lên mắt.

B-KINH NGHIỆM VỀ ĐO ÁP HUYẾT VÀ ĐO ĐƯỜNG HUYẾT CỦA KCYD

1-Đo đường 1 lần ở tay không đúng sự thật.

a-Kiêng không dùng đường, tại sao khi đo đường-huyết vẫn cao ?

Nhiều người đang dùng thuốc chữa bệnh tiểu đường, lúc nào đo đường cũng thấy nằm trong tiêu chuẩn tốt từ 5.0-6.0mmol/l (80-100mg/dL) mà người lúc nào cũng mệt, không có sức, thiếu ăng lượng calorie.

Một thắc mắc lớn nhất ai cũng lấy làm lạ mà tây y không giải thích được là tại sao không ăn đường, kiêng đường, và đã uống thuốc hạ đường, thì đường ở đâu trong người ra mà khi đo đường vẫn tốt ?

Thật ra, cơ co bóp tim, bao tử vẫn cần lượng đường căn bản để giúp máu tuần hoàn, vừa giúp cơ bao tử co bóp chuyển hóa thức ăn, nên cơ thể tự động rút đường hết đường glycogen dự trữ trong gan hết rồi lấy trong mỡ, khi hết mỡ, chúng lấy đường trong cơ bắp thịt làm teo cơ bắp, rồi lấy đường từ vỏ xương làm xương bị xốp, ( khi va chạm dễ bị gẫy xương ), lấy đường trong tủy nơi cột sống làm thoái hóa đốt sống cổ, lưng….do đó khi đo đường vẫn trong tiêu chuẩn, nhưng đường dự trữ trong gan là glycogen sẽ hết dần, cơ thể hao hụt dần mất calorie, mất năng lượng nên sức khỏe yếu dần, đau nhức thần kinh gân cơ gây co rút gân cổ, gân tay chân, gân họng lưỡi không nói không nuốt được, đau nhức toàn thân….

Tại sao thử đường ở 1 ngón tay không đúng sự thật ?

Chưa bao giờ tây y thử đường ở cả 5 ngón tay để biết sự thật là đường trong máu đủ hay thiếu. Chúng ta có thể trả lời tại sao có sự khác biệt trong trường hợp này không?

Thưa Thầy Ngọc,

Con có sự thắc mắc đã xảy ra nhưng con không hiểu:

Giữa các ngón tay cùng bàn tay hoặc khác bàn tay có sự sai biệt về đường huyết quá lớn. Tất cả đo cùng một lần với máy Contour cuả Nhật nhưng kết quả khác nhau rất lớn.

Con đã đo cho con và mấy người khác đều bị như thế. Đây là một ví dụ:

– ngón giữa: 106

– ngón áp út: 199

– ngón trỏ: 122

Và sự khác biệt này là gì?

Con rất mong được sự chỉ dạy của

Kính Thầy,

tuanphuoc

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s